PV (Phóng viên): Thưa ông, công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) đang tác động mạnh mẽ đến hoạt động du lịch toàn cầu. Ông đánh giá như thế nào về những cơ hội mà chuyển đổi số mang lại cho du lịch Việt Nam?
TS Phạm Hà: Chuyển đổi số đang trở thành yêu cầu tất yếu đối với ngành du lịch, từ quảng bá, kinh doanh đến quản lý, điều hành và phục vụ du khách. Điều quan trọng là chuyển từ số hóa những hoạt động riêng lẻ sang quản trị dựa trên dữ liệu, lấy hiệu quả thực chất làm thước đo.
Việt Nam có nhiều lợi thế về cảnh quan thiên nhiên, di sản văn hóa, ẩm thực và truyền thống hiếu khách. Để khai thác hiệu quả những tiềm năng đó, chúng ta cần hiểu rõ nhu cầu của du khách. Đằng sau những con số tăng trưởng phải là câu trả lời: Khách đến từ đâu, vì sao lựa chọn Việt Nam, lưu trú bao lâu, chi tiêu thế nào và điều gì khiến họ quay trở lại?
 |
| TS Phạm Hà. Ảnh: LINH HÀ |
Khi dữ liệu được phân tích đầy đủ, cơ quan quản lý có thêm cơ sở hoạch định chính sách, doanh nghiệp có thể điều chỉnh sản phẩm phù hợp với thị trường. AI cũng hỗ trợ dự báo nhu cầu, phân tích xu hướng tiêu dùng và cá nhân hóa hành trình.
Chẳng hạn, với gia đình có người cao tuổi và trẻ nhỏ, thông tin về nhu cầu đi lại, ăn uống, nghỉ ngơi giúp đơn vị cung cấp dịch vụ chủ động bố trí lịch trình phù hợp. Khi các bộ phận kết nối thông suốt, du khách không phải lặp lại yêu cầu nhiều lần. Công nghệ còn giảm bớt công việc lặp lại, giúp nhân viên có thêm thời gian chăm sóc khách hàng. Đó mới là giá trị thiết thực của chuyển đổi số.
PV: Mặc dù nhiều doanh nghiệp đã chủ động ứng dụng công nghệ, quá trình chuyển đổi số vẫn gặp không ít khó khăn. Theo ông, đâu là những điểm nghẽn lớn nhất cần tháo gỡ?
TS Phạm Hà: Điểm nghẽn lớn hiện nay là dữ liệu còn phân tán, thiếu kết nối đồng bộ giữa các hệ thống quản lý cũng như giữa cơ quan quản lý nhà nước với doanh nghiệp, khiến việc chia sẻ thông tin chưa phát huy hết hiệu quả.
 |
| Du khách thưởng thức trình chiếu ánh sáng nghệ thuật tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội. Ảnh: PHẠM HƯNG |
Từ thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp tại một số địa bàn, chúng tôi nhận thấy việc thực hiện thủ tục đối với phương tiện vận tải khách du lịch đường thủy vẫn còn bất cập. Một số khâu liên quan đến cấp giấy phép phương tiện rời cảng, bến, khai báo tại điểm nghỉ đêm hoặc xuất trình hồ sơ khi kiểm tra còn phát sinh việc đi lại, sử dụng giấy tờ. Trong khi doanh nghiệp đã ứng dụng nền tảng số vào quản lý, việc kết nối và sử dụng hồ sơ điện tử giữa các bên chưa đồng bộ.
Bên cạnh đó, năng lực ứng dụng công nghệ của người lao động cũng là vấn đề cần quan tâm. Chuyển đổi số không đơn thuần là đầu tư phần mềm mà đòi hỏi đổi mới phương thức quản trị và nâng cao kỹ năng số. Đối với AI, thông tin về lịch sử, văn hóa trong các chương trình tham quan cần được kiểm chứng để tránh sai sót ảnh hưởng đến uy tín điểm đến. Vì vậy, chuyển đổi số phải gắn với cải cách thủ tục hành chính, chuẩn hóa dữ liệu và phát triển nguồn nhân lực.
PV: Để chuyển đổi số thực sự trở thành động lực phát triển du lịch Việt Nam, theo ông, ngành du lịch cần tập trung thực hiện những giải pháp trọng tâm nào trong thời gian tới?
TS Phạm Hà: Trước hết, cần xây dựng hệ sinh thái du lịch thông minh với dữ liệu được chuẩn hóa, kết nối từ Trung ương đến địa phương và giữa các bộ, ngành. Những thông tin đã được khai báo, xác thực cần có khả năng chia sẻ giữa các cơ quan có thẩm quyền; doanh nghiệp chỉ phải cung cấp thông tin một lần, cập nhật khi có thay đổi. Hồ sơ điện tử, chữ ký số cần được công nhận thống nhất đối với những thủ tục đủ điều kiện. Hiệu quả phải được đo bằng thời gian giải quyết, số lần đi lại và giấy tờ được cắt giảm.
Cùng với đó, cần khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng công nghệ phù hợp với quy mô, bắt đầu từ quản lý đặt dịch vụ, kết nối thông tin và phân tích phản hồi của du khách. AI nên được ưu tiên ứng dụng trong dự báo nhu cầu, xây dựng lịch trình và đánh giá chất lượng dịch vụ.
Chẳng hạn, thông qua dữ liệu đặt dịch vụ, doanh nghiệp có thể dự báo lượng khách để chủ động bố trí phương tiện, nhân lực và thực phẩm. Việc phân tích phản hồi cũng giúp nhận diện những hạn chế, cải thiện trải nghiệm và gia tăng khả năng khách quay trở lại.
Chuyển đổi số còn phải gắn với du lịch xanh, bền vững. Dữ liệu về tiêu thụ nhiên liệu, điện, nước hay thực phẩm dư thừa có thể giúp doanh nghiệp tiết kiệm tài nguyên, giảm tác động đến môi trường.
Bên cạnh đó, cần chú trọng đào tạo kỹ năng số cho người lao động, nhất là tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ, điểm du lịch cộng đồng. Ứng dụng AI phải đi đôi với bảo vệ dữ liệu cá nhân. Thông tin khách hàng chỉ được thu thập, sử dụng đúng mục đích, trong phạm vi được phép và bảo đảm an toàn. Doanh nghiệp phải kiểm chứng nội dung do AI tạo ra và chịu trách nhiệm về chất lượng dịch vụ.
Tôi cho rằng, chuyển đổi số chỉ thực sự thành công khi tạo ra giá trị cụ thể cho cơ quan quản lý, doanh nghiệp và du khách. AI có thể xử lý thông tin nhanh hơn, nhưng sự tận tâm, khả năng lắng nghe và trách nhiệm của người phục vụ vẫn không thể thay thế. Công nghệ phải giúp người làm du lịch có thêm thời gian chăm sóc du khách, góp phần phát huy giá trị văn hóa và nâng cao sức cạnh tranh của du lịch Việt Nam.
PV: Trân trọng cảm ơn ông!