Tinh thần đó tiếp tục được Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV cụ thể hóa, làm sâu sắc hơn, với yêu cầu xuyên suốt là nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, tăng cường khả năng chống chịu của nền kinh tế, giữ vững ổn định chính trị-xã hội và bảo đảm vững chắc QPAN trong mọi tình huống.
Đây không phải là sự cộng gộp cơ học giữa các lĩnh vực mà là một tư duy phát triển mang tính hệ thống, tích hợp được đặt trong chỉnh thể thống nhất giữa phát triển và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Cốt lõi của tư duy này là lấy lợi ích quốc gia-dân tộc làm tối thượng, lấy con người làm trung tâm, chủ thể và mục tiêu của phát triển; đồng thời xử lý hài hòa các mối quan hệ lớn.
 |
| Ảnh minh họa: TTXVN |
Về phương diện lý luận, Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở kinh tế và kiến trúc thượng tầng; trong đó kinh tế giữ vai trò quyết định, song chính trị, QPAN và đối ngoại có tác động trở lại ngày càng mạnh mẽ. Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng nhất quán khẳng định yêu cầu kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữa phát triển kinh tế với củng cố QPAN, giữa đối nội và đối ngoại. Những luận điểm đó là nền tảng lý luận trực tiếp cho việc hình thành tư duy phát triển gắn kết, hài hòa trong điều kiện mới.
Thực tiễn qua 40 năm đổi mới cho thấy, những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước luôn gắn liền với việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; củng cố QPAN; triển khai hiệu quả đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ. Ngược lại, ở những nơi, những thời điểm thiếu sự gắn kết giữa phát triển kinh tế-xã hội với QPAN, quản lý xã hội và bảo vệ môi trường, thì nguy cơ mất ổn định luôn tiềm ẩn.
Trong bối cảnh hiện nay, khi cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, các yếu tố địa kinh tế, địa chính trị, địa công nghệ đan xen phức tạp; các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống nổi lên gay gắt; ranh giới giữa phát triển và an ninh ngày càng thu hẹp, thì phát triển không thể chỉ được tiếp cận theo nghĩa tăng trưởng kinh tế thuần túy mà phải là phát triển toàn diện, bền vững, có khả năng tự bảo vệ, tự thích ứng và tự điều chỉnh.
Điểm phát triển mới của Đại hội XIV, được Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV tiếp tục nhấn mạnh là nâng yêu cầu “gắn kết, hài hòa” lên thành nguyên tắc chỉ đạo xuyên suốt trong hoạch định và tổ chức thực hiện phát triển. Theo đó, phát triển nhanh phải đi đôi với bền vững; tăng trưởng kinh tế phải gắn với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; hội nhập quốc tế sâu rộng phải trên nền tảng giữ vững độc lập, tự chủ và lợi ích quốc gia-dân tộc.
Trong lĩnh vực kinh tế, trọng tâm không chỉ là tốc độ tăng trưởng mà là chất lượng, hiệu quả và tính bền vững, gắn với bảo đảm an ninh kinh tế. Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế phát triển đồng bộ, hiện đại; khơi thông và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; phát huy vai trò của khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số như những động lực chủ yếu. Đồng thời, phải nâng cao nội lực, tăng cường tính tự chủ, chủ động tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Phát triển văn hóa, xã hội được đặt ngang tầm với kinh tế, nhằm xây dựng nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội và củng cố “thế trận lòng dân”. Bảo đảm an sinh xã hội, thu hẹp khoảng cách phát triển, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển, đồng thời là yếu tố trực tiếp bảo đảm ổn định chính trị-xã hội.
Bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu được xác định là yêu cầu chiến lược gắn với an ninh quốc gia và phát triển bền vững. Phát triển xanh, kinh tế tuần hoàn, sử dụng hiệu quả tài nguyên không chỉ là lựa chọn phát triển mà còn là điều kiện bảo đảm lâu dài cho lợi ích quốc gia-dân tộc.
Củng cố QPAN là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, gắn bó hữu cơ với phát triển. Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV nhấn mạnh yêu cầu xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững chắc; chủ động nhận diện sớm, từ xa các nguy cơ, thách thức; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.
Hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế được triển khai theo hướng nâng cao hiệu quả, chuyển từ “tham gia” sang “chủ động đóng góp, định hình”, qua đó vừa phục vụ phát triển, vừa góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định.
Để thực hiện tốt nhất, hiệu quả cao nhất chủ trương gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường với củng cố QPAN và nâng cao hiệu quả đối ngoại, hội nhập quốc tế, từ Trung ương đến cơ sở cần triển khai đồng bộ, toàn diện các giải pháp có tính hệ thống, tính khả thi và hiệu quả thực chất:
Thứ nhất, ở cấp Trung ương, tiếp tục thể chế hóa kịp thời, đồng bộ các quan điểm của Đảng thành hệ thống chiến lược, quy hoạch, chính sách phát triển mang tính tích hợp cao. Đổi mới căn bản phương thức xây dựng chính sách theo hướng liên ngành, liên vùng; thiết lập cơ chế thẩm định bắt buộc về tác động tổng thể (kinh tế, xã hội, môi trường, QPAN, đối ngoại). Đồng thời, hoàn thiện pháp luật theo hướng ổn định, minh bạch, dễ dự báo; tăng cường năng lực điều phối vĩ mô, khắc phục tình trạng phân tán, cục bộ.
Thứ hai, đối với Chính phủ và các bộ, ngành, cần chuyển mạnh từ quản lý sang quản trị phát triển hiện đại; lấy dữ liệu làm nền tảng, công nghệ số làm công cụ, đổi mới sáng tạo làm động lực. Xây dựng hệ thống giám sát, đánh giá phát triển đa chiều, tích hợp, có khả năng cảnh báo sớm rủi ro chiến lược. Tập trung nguồn lực cho các lĩnh vực then chốt nhằm nâng cao tự chủ chiến lược như hạ tầng số, năng lượng, công nghiệp nền tảng, an ninh lương thực, công nghệ lõi.
Thứ ba, ở cấp địa phương, cần cụ thể hóa tư duy gắn kết trong quy hoạch và quản trị phát triển theo hướng “mỗi địa phương là một mắt xích trong tổng thể quốc gia”. Phát triển dựa trên lợi thế so sánh, gắn với liên kết vùng; kiên quyết không đánh đổi môi trường, an sinh và ổn định để lấy tăng trưởng ngắn hạn. Đồng thời, xây dựng vững chắc khu vực phòng thủ; nâng cao năng lực quản trị xã hội, xử lý hiệu quả các vấn đề phát sinh ngay từ cơ sở.
Thứ tư, đối với các địa bàn chiến lược, cần triển khai các chương trình phát triển tổng hợp, tích hợp kinh tế-xã hội với QPAN. Ưu tiên đầu tư hạ tầng thiết yếu, phát triển sinh kế bền vững, nâng cao đời sống nhân dân; xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, tạo thế trận quốc phòng, an ninh vững chắc từ sớm, từ xa.
Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực và con người phải trở thành trụ cột trung tâm của tư duy gắn kết. Đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo; phát triển khoa học, công nghệ; xây dựng đội ngũ cán bộ có tư duy tích hợp, năng lực liên kết và hành động trong môi trường phức hợp. Đồng thời, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường niềm tin xã hội, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc.
Thứ sáu, lực lượng vũ trang cần phát huy vai trò nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc, đồng thời chủ động tham gia phát triển kinh tế-xã hội, nhất là ở địa bàn trọng yếu. Nâng cao năng lực dự báo chiến lược, tham mưu kịp thời, chính xác; xử lý hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ.
Thứ bảy, về đối ngoại, cần triển khai nhất quán đường lối độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động tham gia định hình các thể chế, luật chơi quốc tế. Kết hợp chặt chẽ đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân; gắn hội nhập với củng cố nội lực, nâng cao vị thế quốc gia.
Thứ tám, tăng cường kiểm tra, giám sát, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương; đề cao trách nhiệm người đứng đầu. Đổi mới hệ tiêu chí đánh giá phát triển theo hướng coi trọng chất lượng, tính bền vững và an ninh phát triển. Kiên quyết khắc phục tư duy nhiệm kỳ, lợi ích cục bộ; bảo đảm mọi quyết sách đều phục vụ lợi ích quốc gia-dân tộc.
Tư duy gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường với củng cố QPAN và nâng cao hiệu quả đối ngoại, hội nhập quốc tế phát triển và bảo vệ Tổ quốc là bước phát triển quan trọng về chất trong nhận thức lý luận và thực tiễn của Đảng. Việc tổ chức thực hiện hiệu quả tư duy này theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV sẽ tạo nền tảng vững chắc để đất nước phát triển nhanh, bền vững, giữ vững độc lập, chủ quyền và từng bước hiện thực hóa khát vọng phát triển phồn vinh, hạnh phúc.