Vượt rừng vì lời hẹn với đồng đội
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ trên đất bạn, Đội K51 thường phải chia thành nhiều tổ nhỏ, tỏa đi khắp các hướng để nắm tin, khảo sát và tìm kiếm, quy tập HCLS. Sau chiến tranh, Mondulkiri từng bước hồi sinh với nhiều công trình điện, đường, trường, trạm, nhà máy, nông trường được xây dựng. Thế nhưng, tại những khu vực giáp biên và các bản làng vùng sâu, vùng xa, giao thông vẫn vô cùng cách trở. Hiểu rõ những gian nan ấy, trên cương vị Bí thư Chi bộ, Chính trị viên Đội K51, Đại tá Đỗ Văn Thiệu luôn nhận về mình những cung đường khó, những khu vực hiểm trở nhất, để đồng đội, nhất là cán bộ, chiến sĩ trẻ vơi bớt phần nào nhọc nhằn.
 |
| Đại tá Đỗ Văn Thiệu (đứng ngoài cùng, bên phải) chỉ huy các lực lượng tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ trên địa bàn tỉnh Mondulkiri. |
Trải tấm bản đồ địa hình tỉnh Mondulkiri xuống nền đất, Thượng tá Nguyễn Văn Từ, Đội trưởng Đội K51 cho biết: "Địa bàn các huyện Kaev Seima, Ou Reang, Pechr Chenda, Kaoh Nheaek có rất nhiều núi cao, rừng nguyên sinh. Có những phần mộ liệt sĩ tuy chỉ cách đường ô tô khoảng 5km đường chim bay nhưng chúng tôi phải băng rừng, lội suối, vượt hàng chục dãy núi và những vách đá dựng đứng suốt cả tuần mới tiếp cận được. Rừng thiêng nước độc với đủ loại hiểm nguy rình rập như rắn rết, ruồi vàng, muỗi, vắt, ong vò vẽ, nhện độc... nhưng ngại nhất vẫn là kiến lửa và kiến ba khoang. Chúng đi theo đàn, một khi bám vào người thì rất khó gỡ".
Không chỉ côn trùng độc hại, dây leo, dây gai ken đặc cũng là thử thách lớn trong mỗi chuyến vượt rừng của cán bộ, nhân viên Đội K51. Chỉ một chút sơ sẩy giữa đêm tối là mặt, cổ và tay chân có thể bị cào rách. Gian nan là vậy mà riêng mùa khô 2025-2026, Đại tá Đỗ Văn Thiệu đã 28 lần dẫn bộ đội băng rừng tìm kiếm HCLS. Hơn 13 năm gắn bó với Đội K51, anh 3 lần mắc sốt rét rừng, mỗi lần chỉ còn "da bọc xương", nhưng vừa bình phục là lại khoác ba lô lên đường như chưa từng trải qua bệnh tật.
Tháng 11-2025, sau khi dẫn Tổ tìm kiếm số 1 vượt hơn 20km đường rừng vào triển khai nhiệm vụ trên đỉnh núi Con Voi (huyện Pechr Chenda), anh tiếp tục quay ra dẫn thêm hai tổ khác tiến sâu vào những cánh rừng nguyên sinh thuộc địa bàn Kaev Seima và Ou Reang. Chỉ khi các tổ đã ổn định nơi ăn ở, dựng xong lều bạt, anh mới quay lại chỉ huy tổ của mình gồm 6 cán bộ, chiến sĩ tiếp tục tìm kiếm tại phum Ô Am, xã Srê Khtum, huyện Kaev Seima.
Đại tá Đỗ Văn Thiệu cho biết, năm 2024, Đội K51 tiếp nhận nguồn tin từ một người dân Campuchia về một bãi mộ tập thể của 59 cán bộ, chiến sĩ Quân tình nguyện Việt Nam hy sinh tại phum Ô Am. Qua nhiều lần xác minh, cơ quan chức năng nhận định đây là nguồn tin có cơ sở. Tuy nhiên, do địa hình thay đổi quá nhiều sau chiến tranh nên đến nay vị trí chính xác của bãi mộ vẫn chưa được xác định. Vì vậy, công tác tìm kiếm vẫn đang được tiếp tục với quyết tâm cao nhất.
 |
| Đại tá Đỗ Văn Thiệu (bên phải) chỉ huy các lực lượng tìm kiếm hài cốt liệt sĩ trên địa bàn tỉnh Mondulkiri. |
Hơn một thập kỷ gắn bó với Mondulkiri, từng ngọn núi, con suối, cánh rừng nơi đây đều in đậm dấu chân người Chính trị viên Đội K51. Anh luôn căn dặn đồng đội khi vào khu vực Ô Am, Cầu Cháy, Cây Cụt, nếu gặp mưa lớn phải lập tức rút quân vì nguy cơ lũ ống, lũ quét và sạt lở đất rất cao. Còn tại Bãi Bom, đồi Nắng Cháy, dốc Diều Hâu... dù khát đến đâu cũng tuyệt đối không uống nước suối vì nguy cơ tồn lưu chất độc hóa học.
Không chỉ thông thuộc địa bàn, anh còn rất hiểu phong tục của đồng bào địa phương. Biết bà con vùng sâu thích gạo nếp, cá cơm, nước mắm Việt Nam, trước mỗi chuyến công tác, anh đều chuẩn bị những phần quà nhỏ mang theo để biếu tặng. Những kinh nghiệm về chăn nuôi, trồng trọt, phát triển kinh tế cũng được cán bộ Đội K51 tận tình hướng dẫn, giúp bà con cải thiện cuộc sống.
Chính sự chân thành ấy đã vun đắp tình đoàn kết, hữu nghị giữa bộ đội Việt Nam với nhân dân Campuchia. Đi đến đâu, Đội K51 cũng nhận được sự đùm bọc, giúp đỡ tận tình; còn Đại tá Đỗ Văn Thiệu thì từ lâu đã trở thành "người con của bản", "sứ giả hòa bình" trong lòng đồng bào Mondulkiri.
Tiếp thêm sức mạnh cho hành trình tri ân
Được Đại tá Đỗ Văn Thiệu trực tiếp cầm tay chỉ việc, dạy tiếng Khmer, chỉ sau một mùa khô, nhiều cán bộ, nhân viên trong đơn vị đã có thể tự tin xuống bản, vào làng trò chuyện với người dân, từ đó thu thập, khai thác nhiều nguồn tin phục vụ công tác tìm kiếm, quy tập HCLS.
 |
| Đại tá Đỗ Văn Thiệu (ngoài cùng, bên trái) tham gia quy tập hài cốt liệt sĩ trên đất bạn Campuchia. |
Có lần, khi đơn vị đang triển khai phương án vượt rừng, anh nhận được tin báo một xóm nghèo gần đó có hàng chục căn nhà bị lốc xoáy làm tốc mái, nhiều căn đổ sập hoàn toàn. Không chút đắn đo, anh lập tức triển khai cho bộ đội thực hiện nhiệm vụ giúp dân dựng lại nhà cửa. 3 ngày miệt mài cùng bà con khắc phục hậu quả thiên tai, cuộc sống nơi đây dần trở lại bình thường. Trước lúc chia tay, những phần thuốc bổ, cá khô mang theo làm lương thực dự phòng cũng được các anh dành tặng người dân. Những việc làm bình dị ấy càng vun đắp niềm tin, tình cảm của nhân dân Campuchia đối với bộ đội Việt Nam, đồng thời mở thêm nhiều cánh cửa để Đội K51 tiếp cận nguồn tin phục vụ công tác tìm kiếm, quy tập HCLS.
Những ngày Tây Nguyên bước vào cao điểm mùa mưa, bất chấp hiểm nguy và muôn vàn khó khăn, Đại tá Đỗ Văn Thiệu vẫn cùng đồng đội ngày đêm băng rừng, vượt núi, thực hiện "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính HCLS" (Chiến dịch 500 ngày đêm) trên địa bàn các xã vùng sâu, vùng xa của tỉnh Đắk Lắk.
Từ nguồn tin do các cựu chiến binh và nhân dân cung cấp, ngày 1 và 2-7 vừa qua, tổ tìm kiếm do anh phụ trách đã quy tập được hai HCLS hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tại xã Krông Bông. Ít ngày sau, bên bờ suối cạnh buôn Phi Dih Ja, xã Krông Nô, đơn vị tiếp tục tìm kiếm, cất bốc được HCLS Y Chông Triêk. Đại tá Đỗ Văn Thiệu kể: "Đầu tháng 7, hai người dân từng tham gia chiến đấu ở H10-mật danh của huyện Lắk trước đây-cung cấp thông tin về nơi chôn cất đồng đội là ông Y Chông Triêk, sinh năm 1952, hy sinh năm 1975 trong khi truy quét tàn quân FULRO. Sau hơn nửa thế kỷ, địa hình đã thay đổi hoàn toàn, không ai còn xác định được chính xác vị trí phần mộ.
Từ nguồn tin đó, chúng tôi nhanh chóng khoanh vùng, gặp gỡ những người cao tuổi trong buôn để xác minh. Sau gần một tuần đào tìm liên tục, phần mộ liệt sĩ Y Chông Triêk đã được tìm thấy cùng nhiều di vật. Chứng kiến niềm xúc động của thân nhân liệt sĩ trong lễ truy điệu, an táng, chúng tôi càng có thêm động lực để tiếp tục công việc của mình".
Hơn nửa thế kỷ sau ngày đất nước thống nhất, các cựu chiến binh, nhân chứng lịch sử ngày một già yếu, vì vậy, mỗi nguồn tin họ cung cấp đều vô cùng quý giá. Tiếp nhận thông tin, Đại tá Đỗ Văn Thiệu luôn yêu cầu các tổ khẩn trương đối chiếu, xác minh, tổ chức tìm kiếm. Nếu chưa có kết quả thì tiếp tục trở lại hiện trường, gặp thêm nhân chứng, mở rộng phạm vi khảo sát; chưa tìm thấy thì khoanh vùng, đánh dấu để tiếp tục trở lại trong những đợt sau.
Với các cựu chiến binh, nhân chứng ở xa trực tiếp dẫn đường cho lực lượng tìm kiếm, anh đều chỉ đạo đơn vị bố trí nơi ăn nghỉ chu đáo, chăm sóc sức khỏe, thanh toán chi phí đi lại đầy đủ, kịp thời.
Dù công việc bộn bề, ngày nào anh cũng dành thời gian gọi điện, nhắn tin nắm tình hình từng hướng, kịp thời động viên cán bộ, chiến sĩ giữ vững quyết tâm, khắc phục khó khăn, đẩy nhanh tiến độ thực hiện Chiến dịch 500 ngày đêm. Mỗi lần xuống cơ sở, anh thường căn dặn: "Được tham gia Chiến dịch 500 ngày đêm là niềm vinh dự của mỗi người. Hãy làm việc bằng hai, bằng ba để góp phần xoa dịu nỗi đau chiến tranh, tri ân những người đã ngã xuống vì Tổ quốc".
 |
| Đại tá Đỗ Văn Thiệu (bên trái) tham gia quy tập hài cốt liệt sĩ trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. |
Không chỉ trực tiếp chỉ huy thực hiện nhiệm vụ, hơn 13 năm gắn bó với Đội K51, Đại tá Đỗ Văn Thiệu luôn dành nhiều tâm huyết trong xây dựng đơn vị. Anh trực tiếp phát hiện, bồi dưỡng, tạo nguồn phát triển Đảng cho gần 40 cán bộ, nhân viên, chiến sĩ. Giữa núi rừng biên giới, những Lễ kết nạp đảng viên diễn ra giản dị nhưng trang nghiêm, trở thành dấu ấn khó quên trong cuộc đời quân ngũ của mỗi người. Ngoài ra, anh trực tiếp bồi dưỡng, đào tạo nhiều cán bộ, chiến sĩ thuộc LLVT tỉnh sử dụng thành thạo tiếng Khmer.
Ngày Đại tá Đỗ Văn Thiệu lần đầu khoác ba lô sang Campuchia thực hiện nhiệm vụ, con lớn của anh mới 10 tuổi, con nhỏ vừa tròn 7 tuổi. Giờ đây, khi các con đã trưởng thành, học đại học, rồi đi làm, anh vẫn lặng lẽ gắn bó với công việc đặc biệt của mình. Hiểu và chia sẻ với chồng, với cha, những lúc nhớ anh, vợ con chỉ nhắn vài dòng tin, chờ khi có sóng điện thoại anh sẽ gọi về. Hậu phương bình yên luôn là điểm tựa để người lính yên tâm đi trọn hành trình tri ân.
"Thần tốc hơn nữa", "Quyết liệt hơn nữa"-những khẩu hiệu ấy vẫn đang được Đại tá Đỗ Văn Thiệu và đồng đội biến thành hành động trên từng cánh rừng, triền núi, con suối nơi vùng sâu, vùng xa. Với anh, mỗi HCLS được tìm thấy là thêm một người con của Tổ quốc được trở về trong vòng tay đồng đội và gia đình; thêm một nỗi đau chiến tranh được sẻ chia, thêm một nghĩa cử "uống nước nhớ nguồn" được nối dài bằng sự hy sinh thầm lặng của những người lính làm công tác tìm kiếm, quy tập HCLS.