Người "đi trước" ở Nà Thuộc

Đến thôn Nà Thuộc, xã Kiên Mộc, hỏi chuyện làm kinh tế từ rừng, nhiều người nhắc đến ông Tô Đức Lượng, Bí thư Chi bộ thôn. Không chỉ là cán bộ cơ sở gương mẫu, trách nhiệm, ông Lượng còn là một trong những người tiên phong phát triển kinh tế đồi rừng, có quy mô sản xuất lớn tại địa phương.

Dẫn chúng tôi đi giữa những hàng thông xanh nối tiếp nhau trên các sườn đồi, ông Lượng kể: Hơn 20 năm trước, nhiều diện tích đất rừng của gia đình chưa được khai thác hiệu quả. Nhận thấy điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng ở địa phương phù hợp với cây thông, năm 2002, gia đình ông bắt đầu phát dọn thực bì, trồng hơn 2ha thông đầu tiên. Những năm đầu, gia đình vừa làm vừa tích lũy kinh nghiệm. Thấy cây thông sinh trưởng tốt, phù hợp với điều kiện đất đai, ông tiếp tục mở rộng diện tích. Ông Lượng chia sẻ: “Là người đứng đầu thôn, tôi luôn xác định mình phải đi trước, làm trước để bà con thấy hiệu quả thì mới tuyên truyền, vận động được”.

  Ông Tô Đức Lượng ở thôn Nà Thuộc, xã Kiên Mộc, tỉnh Lạng Sơn khai thác nhựa thông.

Theo ông Lượng, trồng thông đòi hỏi người làm phải kiên trì bởi thời gian kiến thiết dài hơn nhiều loại cây lâm nghiệp khác. Nếu keo, bạch đàn sau khoảng 6-7 năm có thể khai thác gỗ thì thông phải 12-13 năm mới bắt đầu cho khai thác nhựa. Trong suốt quá trình đó, cây cần được thường xuyên kiểm tra, chăm sóc, phát dọn thực bì, tỉa cành và phòng trừ sâu bệnh. Sự kiên trì ấy đã mang lại thành quả. Đến nay, gia đình ông Lượng có hơn 70ha thông, trong đó khoảng 17.000 cây đang cho khai thác nhựa. Bình quân mỗi năm gia đình thu từ 50 đến 60 tấn nhựa thông. Với giá bán hiện dao động 31.000-35.000 đồng/kg, giá trị lượng nhựa thu được khoảng 2 tỷ đồng.

Không dừng lại ở cây thông, ông Lượng còn đa dạng hóa cây trồng để nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Gia đình hiện có khoảng 8ha hồi, mỗi năm cho sản lượng 2-3 tấn. Tận dụng diện tích đất dưới tán rừng, từ năm 2014, ông tiếp tục đưa cây sa nhân vào trồng, đến nay đã phát triển được hơn 4ha. Không chỉ làm giàu cho gia đình, mô hình của ông còn tạo việc làm thời vụ cho 6-10 lao động ở địa phương, với mức tiền công khoảng 300.000 đồng/người/ngày.

Hiệu quả từ mô hình của gia đình Bí thư Chi bộ thôn Nà Thuộc đã khiến việc vận động phát triển kinh tế rừng ở cơ sở dễ dàng hơn. Bà con thấy hiệu quả ngay từ những cánh rừng, những hộ gia đình trong thôn đã mạnh dạn đầu tư, mở rộng sản xuất.

Để rừng trở thành sinh kế bền vững

Kiên Mộc hiện có 1.721 hộ dân, đời sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông, lâm nghiệp. Theo thống kê của địa phương, toàn xã có khoảng 26.000ha thông, trong đó gần 20.000ha đã cho khai thác nhựa. Riêng 6 tháng đầu năm 2026, sản lượng nhựa thông ước đạt 6.100 tấn. Thôn Bắc Xa là địa bàn có diện tích thông lớn, bình quân mỗi hộ quản lý khoảng 9,9ha. Bên cạnh cây thông, cơ cấu cây lâm nghiệp trên địa bàn ngày càng đa dạng. Toàn xã hiện có hơn 977ha hồi, sản lượng 6 tháng đầu năm 2026 đạt khoảng 350 tấn; khoảng 1.390ha bạch đàn và 2.842ha keo. 

Trao đổi với chúng tôi, đồng chí Hoàng Thị Kim Hoạt, Bí thư Đảng ủy xã Kiên Mộc cho biết: “Xác định lâm nghiệp là hướng phát triển chủ lực, những năm qua, cấp ủy, chính quyền xã tập trung tuyên truyền, định hướng người dân phát triển rừng theo hướng bền vững, đồng thời phối hợp với các tổ chức hội, đoàn thể hỗ trợ người dân tiếp cận nguồn vốn ưu đãi, cây giống và kỹ thuật chăm sóc”.

Cùng với cấp ủy, chính quyền địa phương, các đơn vị Quân đội đứng chân trên địa bàn cũng tích cực tham gia tuyên truyền, vận động nhân dân phát huy tiềm năng đất đai, phát triển kinh tế gắn với bảo vệ rừng. Từ chỗ còn tâm lý e ngại do chu kỳ sản xuất dài, ngày càng nhiều hộ nhận thấy trồng rừng là hướng sinh kế phù hợp, có khả năng tạo nguồn thu ổn định và lâu dài. “Với sự tuyên truyền, vận động của cấp ủy, chính quyền và các lực lượng trên địa bàn, nhận thức của người dân về giá trị kinh tế từ rừng ngày càng rõ hơn. Riêng 6 tháng đầu năm 2026, toàn xã đã trồng mới hơn 400ha rừng, vượt chỉ tiêu đề ra”, đồng chí Hoàng Thị Kim Hoạt cho biết thêm. Hiện hơn 90% số hộ dân trên địa bàn xã tham gia phát triển kinh tế rừng. Khoảng 50% số hộ trồng rừng có thu nhập từ 100 triệu đồng/năm trở lên; những hộ quản lý diện tích lớn có thể đạt mức thu nhập 500-700 triệu đồng/năm. Nguồn thu từ thông, hồi, keo, bạch đàn cùng nhiều loại cây trồng dưới tán rừng đang góp phần quan trọng nâng cao đời sống và giảm tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn. Những cánh rừng xanh ở Kiên Mộc hôm nay vì thế không chỉ tạo nguồn nguyên liệu và giá trị kinh tế. Trên từng sườn đồi, màu xanh ấy đang trở thành “vốn” lâu dài của người dân, tạo việc làm, giữ đất, bảo vệ môi trường và mở thêm cơ hội làm giàu ngay trên quê hương.