Căn cứ vào tập “Thơ-Tuyển một số bài trong "Quế Đường thi tập” (Đào Phương Bình tuyển thơ, dịch nghĩa, dịch thơ, chú thích, năm 1976) đã thấy có tới 28/42 bài in đậm màu sắc du ký, tâm thức du ngoạn, đi và xem. Tỷ lệ tương ứng trong sách "Giải mã thơ chữ Hán Lê Quý Đôn" (Vũ Bình Lục, năm 2022) là 300/412. Có thể nhận ra hầu hết các bài thơ du ký của Quế Đường đều liên quan đến hoạt động công vụ và nhan đề các bài thơ thường gắn với những động từ mang tính đặc thù của tâm thế du ngoạn: Du (thăm, chơi), khán, phỏng (thăm, qua thăm), độ, tế (qua, vượt), kinh, quá (qua), quan, thị, yết (xem), vọng (trông), trú (dừng lại, ở lại)... Xin chứng dẫn nhan đề mấy bài thơ tiêu biểu: "Du Bích Đào động" (Thăm động Bích Đào), "Độ Xương Giang" (Qua sông Xương Giang), "Quá kiều Than chí Na Mạ phố" (Qua cầu Than đến bãi Na Mạ), "Yết Đông Pha từ" (Thăm đền Đông Pha), "Trú Hoài An phỏng Hoài Âm hầu điếu đài" (Dừng lại đất Hoài An thăm đài câu cá của Hoài Âm hầu)...
 |
"Quế Đường thi tập" của Lê Quý Đôn do Nhà xuất bản Đại học Sư phạm xuất bản thành bộ sách 2 tập. Ảnh do Nhà xuất bản Đại học Sư phạm cung cấp
|
Nghiệm sinh chưa đầy 60 năm trên cõi đời, bên cạnh năng lực đọc sách, khảo cứu và hiệu quả viết sách đặc biệt cao, Quế Đường-Lê Quý Đôn còn thể hiện là người lịch lãm, đi nhiều, đương thời trải khắp các vùng, miền trong nước cho đến chuyến đi sứ sang Trung Quốc. Công việc nhà quan khiến ông phải thuyên chuyển qua nhiều nơi, góp phần mở rộng biên độ không gian trong thơ du ký: Sông Dũng Liệt, Lương Phúc, Như Nguyệt, dinh Thị Kiều, vùng Hiệp Hòa, Xương Giang thôn Thượng thuộc Gia Định (Bắc Ninh), thành Cổ Lộng, sông Thiên Mạc, núi Dục Thúy (Ninh Bình)... đến khi đi sứ qua phủ Thái Bình-Quảng Tây và các trạm Dương Châu, Hoài An-Giang Tô, Cảnh Châu-Hà Nam (Trung Quốc)... Đến đâu ông cũng có thơ ghi chép lịch trình, tái hiện phong cảnh thiên nhiên và cuộc sống con người, làm thơ đề vịnh, bày tỏ cảm xúc của mình trước mỗi vùng đất cụ thể. Phải có một tâm hồn ham xê dịch, đam mê cái mới ở mỗi vùng đất thì Quế Đường mới có được những bài thơ du ký phong phú đến như thế.
Với Lê Quý Đôn, ngay cả ở dòng thơ du ký vốn dễ có điều kiện bộc lộ tiếng nói con người cá nhân thì xu thế hướng tâm vẫn là chiều hướng chủ đạo. Có khi trên đường đi công cán, ngắm cảnh đất rộng trời cao, non xanh nước biếc, nhà thơ liên tưởng, khái quát hóa về một thời thịnh trị: "Thần kinh chỉ xích tần hồi vọng/ Vạn lý tường vân nhất đóa hồng" ("Độ Xương Giang"), nghĩa là: "Ngoái trông kinh thành gần trong gang tấc/ Một đóa mây lành đỏ rực từ muôn dặm" ("Qua sông Xương Giang").
Khác với các loại thơ xướng họa, vịnh sử, nghị luận, tụng ca, tự thán, tự thuật, dòng thơ du ký thường gắn với vai trò chủ thể của tác giả và nhấn mạnh tâm thế người du hành, du ngoạn, thưởng ngoạn. Với Quế Đường cũng không ngoại lệ. Khi đến thăm động Bích Đào, còn gọi động Từ Thức (Thanh Hóa), Quế Đường nhập thân với truyền thuyết Từ Thức lấy vợ tiên và ngậm ngùi suy tưởng trong hai câu kết: "Thế nhân khổ tác Thiên Thai mộng/ Bất tưởng Thiên Thai diệc hý trường" ("Du Bích Đào động")-"Người đời cứ khổ tâm mơ mộng Thiên Thai/ Biết đâu chính Thiên Thai cũng là kịch trường đấy thôi" ("Thăm động Bích Đào").
Xem xét trên cơ sở vốn tư liệu hiện có, thơ du ký của Quế Đường phản ánh sắc nét tâm trạng của một nhà thơ quan chức đầu triều, một kiểu tác gia nhà Nho hành đạo điển hình. Việc có được toàn bộ bản dịch "Quế Đường thi tập" sẽ tạo điều kiện cho việc khảo sát thể tài thơ du ký cũng như toàn bộ các giá trị nội dung và nghệ thuật thơ ca, góp phần định vị chân dung Quế Đường-Lê Quý Đôn, nhà bác học, nhà thơ xuất sắc của dân tộc.