Nguyên do các tư liệu thư tịch Lê Quý Đôn đều thuộc văn bản Hán Nôm nhưng chưa được dịch nên chỉ có một số bậc thức giả mới có điều kiện tiếp cận. Khởi đầu, nhà Hán học Nguyễn Hữu Tiến và Đinh Gia Thuyết trong du ký đăng trên Nam Phong tạp chí (năm 1925) và Đuốc Tuệ (năm 1936) đều có chép nguyên văn chữ Hán, phiên âm và dịch, giới thiệu chi tiết mấy bài thơ đề vịnh núi sông của Lê Quý Đôn.

Trang 1, 2 quyển 1 thuộc bộ sách “Vân đài loại ngữ” của Lê Quý Đôn. 

Vốn coi trọng vai trò tài liệu, học giả Nguyễn Tường Phượng tiếp tục giới thiệu “Ba bài thơ trong tập Quế Đường” (trích bài diễn thuyết tại Hội quán Trí Thể dục Thái Bình ngày 26-2-1944), trong đó có dẫn giải, phiên âm, dịch nghĩa bài “Giản Triều Tiên quốc sứ” (Tặng sứ Triều Tiên, Tri Tân tạp chí, năm 1944)... Vậy là học giới đã nắm bắt thông tin việc Lê Quý Đôn có thơ xướng họa với sứ thần Triều Tiên ngay từ hồi đầu thế kỷ 20.

Trên phương diện văn bản học, nhà Hán học, nhà văn xuất sắc Nguyễn Trọng Thuật đã dịch “Việt Nam cao tăng khảo” của Lê Quý Đôn (thực chất là phần Thiền dật trong sách "Kiến văn tiểu lục"), bao quát cả giới thiệu tiểu sử và dịch thơ chữ Hán các thiền sư từ thời Bắc thuộc nối sang Tổ Cầu Hương Hải (1628-1715), kéo dài 7 kỳ tạp chí Đuốc Tuệ (năm 1936).

Trên lịch trình tiếp nhận Lê Quý Đôn cần đặc biệt ghi nhận du ký “Một buổi đến thăm nơi cắt rốn chôn rau của Tướng công Lê Quý Đôn” của Tam Lang Vũ Đình Chí và Thái Phỉ Nguyễn Đức Phong đã in 4 kỳ trên Hà thành Ngọ báo (năm 1933). Bài du ký bao quát nhiều phương diện về cảnh quan làng quê, gia tộc, nhà thờ, hoạt động điền dã, sưu tầm tài liệu, thơ văn, hoành phi, câu đối, giai thoại và in kèm ảnh cụ Lê Quý Liêu, cháu năm đời của cụ Lê Quý Đôn, là trưởng tộc họ Lê cùng lời truyền về tính cách cụ Bảng nhãn: “Tướng công chúng tôi ghét rượu nhất hạng và không ưa gì hơn sách”...

Trên phương diện tiểu sử, Khái Sinh Dương Tụ Quán (1901-1969) chất chính vấn đề diên cách trong bài "Làng cụ Lê Quý Đôn ở đâu?". Lại nói, trước việc Nguyễn Nam Thông thuộc Văn đoàn Bảo Ngọc xuất bản truyện "Trạng hụt" (năm 1941), hai nhà phê bình Tảo Trang và Kiều Thanh Quế đều đã viết bài góp ý, chỉ ra những nhầm lẫn về tiểu sử, “bôi nhọ sự thật”, “tài liệu chẳng xác đáng”, “kéo dài lôi thôi” (Tri Tân tạp chí, năm 1942).

Cảm nhớ về Lê Quý Đôn, Phó bảng đồng hương Nông Sơn Nguyễn Can Mộng (1880-1954) đã có bài hát nói “Quế Đường hậu thân” (Nam Phong tạp chí, năm 1933) mà đến nay cũng chưa thấy xuất hiện trong một sưu tập nào... Đề cao tinh thần thực học, học giả Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm (1902-1977) đặc biệt đánh giá cao việc Lê Quý Đôn đã tỏ ý ngờ bộ Quản tử “không phải nguyên thư” và nêu đích danh “Liệt tử và Trang tử, tức gọi là hạng ở ẩn dật mà nói phóng khoáng” (Tri Tân tạp chí, năm 1942).

Theo chương trình giảng dạy của Nha Học chính Đông Pháp, nhà giáo Dương Quảng Hàm đã soạn “Việt Nam văn học sử yếu” (năm 1943) đã có riêng mục “Lê Quý Đôn: Tác phẩm viết bằng Hán văn và Việt văn của ông” với đầy đủ các nội dung về tiểu sử, sự nghiệp biên soạn, khảo cứu, sáng tác và lời kết luận sáng rõ: “Tuy tác phẩm của ông nay đã thất lạc mất ít nhiều nhưng những bộ còn lưu lại cũng là một cái kho tài liệu để ta khảo cứu về lịch sử, địa dư và văn hóa của nước ta”...

Tiếp nhận ảnh hưởng lý thuyết phương Tây, Tiên Đàm đúc kết phương pháp viết sử của Lê Quý Đôn, tập trung trích dẫn lời tựa sách "Đại Việt thông sử" và lược giải các khái niệm “sử quan”, “sử bút”, “phép làm sử”, “thông sử”, “dã sử”, mở rộng đối sánh ý kiến của nhà hoạt động xã hội Pháp F. Chateaubriand (1768-1848) và nhà sử học Phan Huy Chú (1782-1840), đồng thời có nhận định: “Bộ sử ấy có giá trị nhất trong các sách của ông, vì ông đã xét nhận, phán đoán các sử sách Trung Quốc, Việt Nam, kiếm tìm tài liệu rồi mới viết” (Tri Tân tạp chí, năm 1944).

Hoạt động tiếp nhận Lê Quý Đôn giai đoạn nửa đầu thế kỷ 20 thể hiện sắc nét trên các phương diện tìm hiểu tiểu sử, dịch thuật, giới thiệu thơ văn, tập trung nghiên cứu, giảng dạy, bình luận tác phẩm và ghi chép tư liệu trong các trang du ký, sưu tập dã sử, giai thoại, từ đó vừa đặt nền móng vừa làm cầu nối cho tiến trình khẳng định vị thế danh nhân họ Lê thời cận-hiện đại.