Điều này đã khẳng định sự đánh giá cao của quốc tế đối với những giá trị khoa học, văn hóa, giáo dục của Việt Nam, với cá nhân danh nhân Lê Quý Đôn; đồng thời, ghi nhận toàn cầu đối với những lý tưởng về hòa bình, bình đẳng xã hội, học tập suốt đời mà Việt Nam cùng chia sẻ với thế giới.
Một trí thức dấn thân tiêu biểu
Lê Quý Đôn (2-8-1726 / 11-6-1784), lúc nhỏ tên Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường; sinh trong gia đình nội ngoại và bên vợ đều dòng dõi khoa bảng; quê làng Diên Hà thuộc trấn Sơn Nam (nay thuộc xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên). Ông nổi tiếng thông minh, học giỏi, từng đỗ đầu 3 kỳ thi: Giải nguyên (thi Hương, năm 1743), Hội nguyên và Bảng nhãn (thi Hội và thi Đình, năm 1752), từng được tin dùng, thăng thưởng tới Thừa chỉ Viện Hàn lâm, Phó đô Ngự sử, Hữu thị lang Bộ Công, Bồi tụng, Hành Tham tụng, sau khi mất được truy tặng Thượng thư Bộ Công...
 |
| Sinh viên Khoa Viết văn, Báo chí (Trường Đại học Văn hóa Hà Nội) bên cạnh tượng chân dung nhà bác học Lê Quý Đôn tại Bảo tàng Văn học Việt Nam. Ảnh: PHƯƠNG HẢO |
Đồng hành với thời đại hướng về thực học và trào lưu nhân văn, Đình nguyên Bảng nhãn Lê Quý Đôn chủ trương học đi đôi với hành, kiến thức phải phục vụ đời sống và quản lý xã hội. Điều này thể hiện rõ ở việc ông trau dồi được vốn kiến thức chuyên sâu, rộng lớn, bao quát từ kinh sử, triết học đến toán học, thiên văn, địa lý, lịch sử, tôn giáo, văn học, từ điển học và nông ngư nghiệp. Mặt khác, cả đời ông gắn liền với những chuyến đi không mỏi mệt, tích lũy vốn hiểu biết phong phú về địa phương học các vùng miền, trải khắp các tỉnh Bắc Bộ, Đông Bắc, Tây Bắc cho đến trấn Thuận Hóa tận cùng Bắc Trung Bộ. Đi xa hơn, năm 1760, ông được cử làm Phó sứ sang nhà Thanh, trong đó có việc tranh biện, yêu cầu chủ nhà không được gọi sứ đoàn là “di quan, di mục” mà phải tôn trọng đoàn “An Nam cống sứ”. Thêm nữa, ông còn mở rộng giao lưu, xướng họa với sứ thần Cao Ly (Triều Tiên) và sau này đã giới thiệu trong sách “Kiến văn tiểu lục” (Ghi chép những điều thấy và nghe, năm 1777): “Nước Cao Ly, về thời đại nhà Đường, gọi là An Đông đô hộ phủ, đến đời Thạch Tấn, Vương Kiến mới khôi phục được và dựng thành nước, kiêm tính cả Tân La và Bách Tế, trải qua các triều đại Tống và Nguyên, đến đời Minh Thái Tổ, triều đại do Vương Kiến dựng lên mới mất. Họ Lý lên thay, quốc hiệu vẫn theo như cũ, gọi là Triều Tiên, trải qua từ đời nhà Đại Minh đến triều đại hiện nay”.
Sống trọn vẹn một đời trong thể chế lưỡng đầu Lê-Trịnh, Lê Quý Đôn sáng suốt lựa chọn cách ứng xử phù hợp, vừa là bề tôi nhà Hậu Lê, vừa cống hiến toàn bộ tài năng để phục vụ và củng cố quyền lực cho các chúa Trịnh Doanh-Trịnh Sâm. Ông không cực đoan chọn lối sống ẩn dật cầu an hay làm tôi trung bảo vệ vương quyền vua Lê như một số nho sĩ đương thời. Có thể nói Lê Quý Đôn đã kết hợp uyển chuyển giữa năng lực quan gia với thực tiễn xã hội và khát vọng tri thức. Việc ông trải qua hơn 40 chức vụ khác nhau, từ quan đầu triều đến các phủ trấn, từ văn quan đến võ tướng, khoa cử và quân vụ, kê cứu hộ tịch và thanh tra, sứ thần và đánh dẹp phiến loạn, ở kinh đô và biên viễn, vùng đồng bằng và lên miền núi, nơi duyên hải, biển đảo và biên cương, phương Bắc và phương Nam... Việc thuyên chuyển nhiều nơi với người khác là nỗi khổ, còn với ông lại là niềm vui, cơ may và cả ước nguyện để nhân cơ hội đó có thể góp ý, tư vấn cho các bậc vua chúa củng cố kỷ cương, bảo vệ chủ quyền quốc gia và bản thân có điều kiện sưu tầm tài liệu, biên soạn nhiều công trình lịch sử, địa chí có giá trị, được người đương thời và hậu thế đánh giá cao.
Di sản đồ sộ, có giá trị vượt thời gian
Trong nhiều loại trước tác của Lê Quý Đôn, cần đặc biệt nhấn mạnh giá trị 4 bộ sách nổi trội có tính cách bách khoa thư, kinh điển đại thành, sưu tập văn bản, khảo cứu liên ngành và chuyên ngành khác nhau.
Thứ nhất, bộ “Vân đài loại ngữ” (Phân loại những lời trích trên gác sách, năm 1773), đúc kết trong 9 chương, gồm những ghi chép theo thể bút ký, trích dịch, bình điểm khi đọc sách và những quan sát, khảo cứu, dẫn giải về mọi sự ở trong nước và năm tháng đi sứ. Biên độ số lượng những “điều” (cộng chung 782 điều) thay đổi tùy theo tính vấn đề đặt ra ở mỗi chương, thấp nhất 38 điều (chương “Hình tượng”, chủ yếu hướng tới những vấn đề trừu tượng, thiên văn, địa lý và lịch pháp, sự chuyển động của các vì sao, qua đó giải mã cách người xưa quan sát và lý giải thế giới tự nhiên) đến 320 điều (chương “Phẩm vật”, điểm danh những nội dung thực tại, tập trung mô tả, phân loại chi tiết đặc tính, nguồn gốc, tên gọi của các loài động vật, thực vật, khoáng sản, nông cụ và y dược)...
Thứ hai, bộ “Kiến văn tiểu lục” gồm 9 mục, 12 quyển, thể hiện tầm nhìn bao quát nhiều loại tư liệu lịch sử, di tích văn hóa, chế độ khoa cử, thể lệ, lễ nghi, phong tục, trong đó có khảo cứu chuyên sâu về phong vực miền thượng Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang; hệ thống hóa truyện danh tăng, tiểu sử thiền sư và điểm danh những di tích, thần linh được coi trọng, nối đời thờ phụng...
Thứ ba, “Toàn Việt thi lục” (Sao lục toàn tập thơ Việt, năm 1768) gồm 15 quyển, thực hiện sưu tập, biên soạn tới 2.391 bài thơ chữ Hán của 175 tác giả và 21 bài khuyết danh, nối dài từ triều Lý đến hết thời Lê sơ (năm 1527). Đây là bộ hợp tập, tổng tập thơ ca được trình bày theo nguyên tắc lịch đại, đóng góp to lớn vào việc hệ thống hóa, bảo tồn nguồn thư tịch thi ca dân tộc, đạt năng suất, chất lượng lao động học thuật cao, hoàn thành chỉ trong một năm...
Thứ tư, “Quế Đường thi tập” (Tập thơ của Quế Đường) gồm trên 500 bài thơ, chia theo chủ đề tặng đáp và đề vịnh. Dòng chủ lưu thơ Lê Quý Đôn theo tiếng nói chính thống, hướng tâm, chuẩn mực, mở rộng phản ánh cuộc sống đời thường, quan hệ hữu hảo, thiên nhiên bình dị với đóng góp độc đáo về dòng thơ du ký, kỷ sự, liên quan đến hoạt động công vụ, nhân việc nhà vua, việc triều đình, việc nhà quan, việc nước mà kết hợp du ngoạn, đề thơ nơi danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, địa linh nhân kiệt ở trong nước và nhân chuyến đi sứ...
Ngoài 4 bộ sách cơ bản trên, nhà bác học toàn tài Lê Quý Đôn còn thể hiện năng lực suy tư, sáng tạo và trước tác bậc thầy. Mới ngoài 20 tuổi, ông đã vừa dạy học vừa hoàn thành bộ sách kỳ tích đồ sộ “Đại Việt thông sử” (còn gọi Lê triều thông sử, 30 quyển, năm 1749). Ông đi nhiều, đọc rộng, nhìn đâu cũng thấy đề tài, đi bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì cũng chăm chỉ quan sát, tìm hiểu, sưu tầm, thống kê, biên chép. Chỉ riêng sách “Vân đài loại ngữ”, ông đã trích dẫn tới 557 đầu sách chữ Hán chuyên sâu, một số lượng tài liệu tham khảo mà đến ngày nay chúng ta còn thấy khâm phục và kinh ngạc.
Tổng số sách của ông lên tới khoảng 50 bộ, gồm đủ các môn loại bàn giảng về kinh, truyện, khảo cứu cổ thư, sử ký, địa lý, sưu tập thơ văn... cho đến các môn loại “khoa học thường thức”; trong đó phải kể đến các bộ sách nổi tiếng như: “Dịch kinh phu thuyết” (Lời bàn nông nổi về Kinh Dịch, 6 quyển), “Thư kinh diễn nghĩa” (Giảng nghĩa Kinh Thư, 3 quyển), “Quần thư khảo biện” (Xét bàn các sách, 4 quyển), “Bắc sứ thông lục” (Chép việc khi đi sứ Bắc, 4 quyển), “Phủ biên tạp lục” (Tạp chép chính sự cõi biên thùy, 6 quyển), “Lịch đại danh thần ngôn hành lục” (Chép việc danh thần các triều, 2 quyển), “Liên châu thi tập” (Nối lời thơ, 4 quyển), “Đại Việt sử ký tục biên” (soạn chung), “Hoàng Việt văn hải” (Bể văn vua nước Việt)... Bên cạnh loại sách biên khảo và sáng tác tập thơ chữ Hán “Quế Đường thi tập”, Lê Quý Đôn còn viết văn xuôi với “Quế Đường văn tập” (Tập văn của Quế Đường, 3 quyển).
Lê Quý Đôn là bậc khoa bảng tận tâm tận lực đúc kết và khai sáng tri thức văn hóa dân tộc. Một mặt, ông nỗ lực sưu tầm, tổng kết và hệ thống hóa di sản tinh thần cha ông; mặt khác, tập trung giải quyết những vấn đề cấp thiết đang đặt ra như về thể chế và phương thức quản lý xã hội, sự nghiệp kinh bang tế thế và phát huy sức mạnh tự cường, chú trọng vai trò chế độ tập quyền và phân quyền các địa phương, nhấn mạnh nguồn lực tri thức thực học và công cuộc xây dựng đất nước; đồng thời nêu cao tư tưởng độc lập và liên lập, mở rộng quan hệ với các nước lân bang, góp phần thúc đẩy các ngành khoa học xã hội, tự nhiên và xã hội phát triển. Chính vì thế mà Lê Quý Đôn trở thành biểu tượng của tinh thần hiếu học, tự cường dân tộc, danh nhân đất nước và được UNESCO ghi nhận, tôn vinh.