Làm chủ công nghệ chiến lược, công nghệ lõi
Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt về KHCN, việc có đủ năng lực làm chủ công nghệ trở thành một yếu tố quan trọng quyết định đến sức cạnh tranh và khả năng phát triển bền vững của một quốc gia.
 |
| Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Bùi Hoàng Phương phát biểu tại phiên họp về ngoại giao khoa học, công nghệ ngày 5-8. Ảnh: THÀNH LONG |
Thời gian qua, tư duy về phát triển và hội nhập KHCN của Việt Nam đã được nâng tầm thông qua các nghị quyết của đại hội Đảng, trong đó đã xác định KHCN và ĐMST là đột phá chiến lược, đòi hỏi Việt Nam phải có phương thức hợp tác để tiếp cận KHCN, chủ động tham gia vào chuỗi giá trị.
Theo đồng chí Bùi Hoàng Phương, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (KH-CN), hiện nay, các sản phẩm công nghệ cao đang chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, phần giá trị gia tăng lớn nhất và những công nghệ lõi trong các sản phẩm công nghệ này vẫn thuộc về các tập đoàn đầu tư nước ngoài. “Do đó, điều chúng ta cần làm hiện nay không phải là mở rộng quy mô sản xuất hay sản xuất nhiều hơn. Chúng ta cần phải làm chủ được những công nghệ lõi để tạo ra được cái mang lại giá trị gia tăng cao cho đất nước”, Thứ trưởng Bùi Hoàng Phương nêu rõ.
Đối với Việt Nam, phát triển, nắm bắt được công nghệ chiến lược, công nghệ lõi không chỉ là yêu cầu của ngành KHCN mà đây là yêu cầu của cả quá trình phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Thứ trưởng Bùi Hoàng Phương chỉ rõ, Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã xác định 10 nhóm công nghệ chiến lược và 30 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược. Theo đó, mỗi công nghệ phải gắn với một bài toán lớn của đất nước, tạo ra sản phẩm cụ thể, có doanh nghiệp dẫn dắt và lộ trình rõ ràng để từng bước hình thành năng lực công nghệ quốc gia.
Thời gian qua, doanh nghiệp Việt Nam đã từng bước làm chủ một số công nghệ quan trọng, như mạng 5G, thiết bị bay không người lái và hệ thống camera AI. Việt Nam cũng đã hình thành mạng lưới ĐMST với sự tham gia của nhiều chuyên gia tại hơn 20 quốc gia, vùng lãnh thổ. Tuy vậy, theo Thứ trưởng Bùi Hoàng Phương, Việt Nam vẫn còn thiếu công nghệ lõi trong nhiều lĩnh vực; thiếu tổng công trình sư, chuyên gia đầu ngành; chưa kết nối sâu với các tập đoàn công nghệ lớn và còn thiếu thị trường cho sản phẩm công nghệ Việt Nam.
Để khắc phục những khoảng trống này, theo Thứ trưởng Bộ KH-CN, ngoại giao KHCN cần chuyển từ hợp tác nghiên cứu, trao đổi học thuật sang thu hút trực tiếp các nguồn lực phục vụ phát triển công nghệ chiến lược.
 |
| Phó thủ tướng Hồ Quốc Dũng thăm Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC), tháng 5-2026. Ảnh: Baochinhphu.vn |
Phát triển đan xen nguồn nhân lực và mạng lưới chuyên gia
Nếu trước đây Việt Nam chỉ tập trung vào việc thúc đẩy hợp tác nghiên cứu chung và những trao đổi mang tính học thuật, thì trong giai đoạn hiện nay, công tác ngoại giao KHCN cần có vai trò lớn hơn.
Chia sẻ thành tựu của Nhật Bản trong quá trình chấn hưng KHCN, Đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản Phạm Quang Hiệu cho rằng, để tận dụng hiệu quả quá trình tái cấu trúc của Nhật Bản, Việt Nam cần chuyển tư duy từ thu hút đầu tư, tiếp nhận hay chuyển giao công nghệ truyền thống sang chủ động tham gia vào các mạng lưới nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa công nghệ cùng Nhật Bản thông qua 3 trụ cột. Đầu tiên là thúc đẩy hợp tác đồng nghiên cứu trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược. Thay vì chỉ tiếp nhận các sản phẩm công nghệ đã hoàn thiện, Việt Nam cần tham gia ngay từ giai đoạn nghiên cứu thông qua các chương trình nghiên cứu chung hoặc thử nghiệm chung và mạng lưới hợp tác giữa các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp hai nước. Cách tiếp cận này không chỉ giúp Việt Nam tiếp cận tri thức công nghệ tiên tiến mà còn góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu trong nước, hình thành các đội ngũ chuyên gia, trí thức của Việt Nam trong quá trình sáng tạo công nghệ”, Đại sứ nhấn mạnh.
Cùng với đó, tăng cường kết nối giữa các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp hai nước. Cần tạo điều kiện cho các doanh nghiệp của Nhật Bản đầu tư vào các trường, viện nghiên cứu của Việt Nam. Ngược lại, các doanh nghiệp hoặc quỹ đầu tư mạo hiểm của Việt Nam cũng có thể đầu tư vào các trường nghiên cứu, trường đại học, phòng nghiên cứu của Nhật Bản, từ đó hai bên cùng chia sẻ kết quả.
Ngoài ra, cần phát triển và đan xen nguồn nhân lực cùng mạng lưới chuyên gia công nghệ giữa hai nước. Nhật Bản có nhu cầu lớn nhân lực về công nghệ, trong khi Việt Nam có lợi thế về lực lượng lao động trẻ, có khả năng thích ứng nhanh với công nghệ mới. Việt Nam cũng có thể mời chuyên gia, thậm chí là những chuyên gia Nhật Bản đã nghỉ hưu, có nhiều kinh nghiệm, có sức khỏe sang Việt Nam giảng dạy, nghiên cứu và cùng hợp tác.
Trong khi đó, từ góc độ cơ quan đại diện tại Singapore, Đại sứ Việt Nam tại Singapore Trần Phước Anh đề xuất cần đổi mới tư duy, phương thức và cách làm trong công tác ngoại giao KHCN. Đại sứ cho biết, Đại sứ quán Việt Nam tại Singapore đã và đang kết nối các cơ quan của Singapore như A*STAR, Quỹ Nghiên cứu Quốc gia Singapore, tổ chức SGInnovate với các đối tác của Việt Nam như Trung tâm ĐMST Quốc gia (NIC), Bộ KH-CN, một số trường đại học và doanh nghiệp. Đại sứ Trần Phước Anh cho rằng, trong thời gian tới, KPI của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài sẽ không chỉ dựa vào số đoàn, số bản ghi nhớ (MoU), mà phải đo bằng những dự án nghiên cứu phát triển mới được kết nối...
Đại sứ Trần Phước Anh cũng đề xuất ý tưởng hình thành quỹ nghiên cứu chung Việt Nam-Singapore, hoặc thúc đẩy hình thành phòng thí nghiệm chung giữa các viện, trường nghiên cứu của hai nước. Một lợi thế ở Singapore là mạng lưới chuyên gia trí thức kiều bào rất đông. Tận dụng, khai thác nguồn lực này sẽ mang lại hiệu quả rất lớn.
"Việt Nam cần đưa tri thức, công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút vốn đầu tư, các tập đoàn công nghệ lớn và đưa mạng lưới ĐMST toàn cầu về gắn kết với Việt Nam để trở thành một bộ phận quan trọng thúc đẩy Việt Nam phát triển công nghệ chiến lược quốc gia", Thứ trưởng Bộ KH-CN Bùi Hoàng Phương nhấn mạnh và lưu ý, nếu triển khai hiệu quả công tác này, Việt Nam sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời gian, công sức, nguồn lực của quốc gia trên con đường làm chủ công nghệ chiến lược.