Từ thần đồng đất Diên Hà đến bậc đại khoa

Trong tiến trình hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam luôn coi hiền tài là nguyên khí quốc gia, lấy sự học làm nền tảng bồi đắp văn hiến. Thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn xuất hiện như một hiện tượng đặc biệt: Vừa là nhà chính trị, nhà ngoại giao, nhà giáo, vừa là nhà bác học có tầm hiểu biết bao quát hiếm có. Sự nghiệp của ông cho thấy trí tuệ Việt Nam biết tiếp nhận, chọn lọc và chuyển hóa tri thức để giải quyết những vấn đề của đất nước.

Lê Quý Đôn, thuở nhỏ tên là Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường, sinh ngày 2-8-1726 tại làng Diên Hà, huyện Diên Hà (nay thuộc xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên). Ông sinh trưởng trong một gia đình khoa bảng “văn hiến truyền gia”. Sử sách chép Lê Quý Đôn nổi tiếng thần đồng, như Sử gia Phan Huy Chú đã viết về ông: “Năm lên 2 tuổi đã biết hai chữ “chi, vô”, thử hàng trăm lần cũng không sai. Năm lên năm tuổi ông học Kinh Thi. Năm 12 tuổi ông học khắp kinh, truyện, các sử, các sách của bách gia, chư tử, không sách nào là không thông suốt. Văn ông rộng rãi, tao nhã, sâu sắc, cầm bút là xong ngay”[1]. Lời đánh giá của sử gia Phan Huy Chú đã khái quát thiên tư xuất chúng, sức học uyên bác và khả năng sáng tạo hiếm có của một bậc đại học giả, người sau này trở thành niềm tự hào của nền văn hiến Việt Nam.

Chính tài năng ấy khiến giới sĩ phu sớm tin rằng ông sẽ trở thành người đứng đầu khoa cử. Theo ghi chép của các thư tịch, một vị tiến sĩ từng nói với thân phụ của Lê Quý Đôn: “Nước mình lâu nay không có Trạng, nay con ông thông minh ghê gớm, chắc chắn là phải có Trạng[2]. Dù đây mang tính dự đoán và phản ánh sự kỳ vọng của người đương thời hơn là một sự kiện lịch sử, nhưng cũng cho thấy danh tiếng về tài năng của Lê Quý Đôn đã lan truyền rất sớm trong giới học thuật. Điều làm nên sự khác biệt của ông là khả năng tiếp thu tri thức vượt trội, ý chí tự học bền bỉ và khát vọng khám phá thế giới tri thức vượt xa yêu cầu của các kỳ thi Nho học đương thời.

Chương trình nghệ thuật đặc biệt tại Lễ kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn. Ảnh: TTXVN 

Bước ngoặt quan trọng nhất trong cuộc đời Lê Quý Đôn là việc ông đỗ Bảng nhãn trong khoa thi Nhâm Thân, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 13 (1752). Theo Đại Việt sử ký tục biên, tháng Chạp thi Đình “lấy Lê Quý Đôn đỗ Tiến sĩ cập đệ nhị danh (Bảng nhãn)…”[3]. Thành tích này đã khẳng định vị thế của Lê Quý Đôn trong hàng ngũ trí thức ưu tú của triều Lê Trung hưng và đưa ông trở thành một trong những nhà khoa bảng xuất sắc nhất của thế kỷ XVIII. Theo ông học tập đã trở thành nhu cầu suốt đời và phương thức phụng sự quốc gia.

Trên con đường làm quan, lần lượt ông đảm nhiệm nhiều trọng trách trong triều Lê - Trịnh, từ Hàn lâm viện, Quốc Sử quán đến các chức vụ quan trọng ở trung ương và địa phương. Dù ở cương vị nào, ông cũng thể hiện tư tưởng lấy dân làm gốc, đề cao kỷ cương phép nước, chống tham nhũng, khuyến khích khai hoang, phát triển sản xuất và chăm lo đời sống nhân dân. Những kiến nghị cải cách của ông nhiều khi vượt trước thời đại, phản ánh tầm nhìn của một nhà chính trị luôn trăn trở trước vận mệnh quốc gia.

Trong chuyến đi sứ nhà Thanh từ năm 1760-1762[4], học vấn, khí phách và tài ứng đối của Lê Quý Đôn khiến nhiều học giả Trung Quốc, Triều Tiên khâm phục. Trước cách gọi miệt thị sứ bộ Đại Việt, ông kiên quyết đấu tranh bảo vệ quốc thể. Trên đường về, khi phát hiện các văn thư của quan lại nhà Thanh vẫn dùng chữ “Di” để gọi sứ thần Đại Việt, Lê Quý Đôn đã chính thức kiến nghị quan lại Quảng Tây sửa đổi cách xưng hô, yêu cầu sử dụng danh xưng “An Nam công sứ[5] thay cho những từ ngữ mang ý nghĩa miệt thị. Kiến nghị của ông được chấp thuận và từ đó nghi thức ngoại giao giữa hai nước có sự điều chỉnh theo hướng tôn trọng hơn. Đây là một thành công có ý nghĩa không chỉ về ngoại giao mà còn thể hiện bản lĩnh, lòng tự tôn dân tộc và khả năng ứng xử mềm dẻo nhưng kiên quyết của một nhà ngoại giao Việt Nam.

Chu Bội Liên quan Đề đốc tỉnh Quảng Tây triều Thanh viết “Ông Lê Quế Đường... Tài sánh ngang hào kiệt, học đáng bậc thánh hiền[6]. Học giả Triều Tiên Hồng Khải Hy[7] cũng khâm phục sự uyên bác, thông thạo lễ nghĩa của vị sứ thần Đại Việt. Những đánh giá ấy cho thấy tầm vóc của ông đã vượt khỏi biên giới quốc gia, góp phần khẳng định vị thế văn hóa Việt Nam trong không gian học thuật Đông Á.

Nhà bác học của nền văn hiến Việt Nam

Di sản Lê Quý Đôn bao quát hầu hết các lĩnh vực tri thức quan trọng của thời đại: Lịch sử, triết học, văn học, địa lý, thiên văn, nông học, ngôn ngữ, thư mục, chính trị, kinh tế, giáo dục và ngoại giao. Hơn 40 bộ sách được thống kê mang tên ông, dù nhiều tác phẩm đã thất truyền, vẫn tạo nên một tầm vóc trước tác hiếm có.

Trong lĩnh vực sử học, Đại Việt thông sử, Kiến văn tiểu lụcPhủ biên tạp lục là những thành tựu tiêu biểu. Đại Việt thông sử góp phần phục dựng lịch sử dân tộc và thể hiện ý thức sâu sắc về bảo tồn thư tịch. Phần Nghệ văn chí thống kê, phân loại nhiều bộ sách Hán Nôm, đặt nền móng quan trọng cho thư mục học Việt Nam. Cuộc đời của ông là minh chứng sinh động cho chân lý tri thức chỉ thật sự có ý nghĩa khi gắn với trách nhiệm xã hội và khát vọng cống hiến.

Trong Kiến văn tiểu lục, chúng ta thấy Lê Quý Đôn viết: “Nước Nam, hai triều đại nhà Lý, nhà Trần, có tiếng là văn minh (có sách dịch là văn hiến)”[8]. Trong Quần thư khảo biện, tuy trọng tâm là khảo cứu triết học và tư tưởng, ông vẫn dẫn lại những tư liệu cho thấy triều Tống từng học hỏi cách tổ chức quân đội của Đại Việt, qua đó khẳng định những đóng góp của dân tộc trong lĩnh vực quân sự.

Tương tự, trong Vân đài loại ngữ, ông nhiều lần nhắc đến việc triều Minh tiếp thu kỹ thuật chế tạo súng thần cơ do Hồ Quý Ly và Hồ Nguyên Trừng phát triển, góp phần khẳng định trình độ khoa học - kỹ thuật của người Việt trong lịch sử. Không chỉ thể hiện tinh thần dân tộc qua trước tác, Lê Quý Đôn còn thể hiện bản lĩnh trên mặt trận ngoại giao.

Đặc biệt, Phủ biên tạp lục được hình thành từ quá trình khảo sát thực tế tại vùng Thuận Hóa, Quảng Nam. Tác phẩm ghi chép khá toàn diện về cương vực, đường sá, thành lũy, sông núi, tài nguyên, sản xuất, thuế khóa, phong tục và đời sống cư dân. Những tư liệu về đội Hoàng Sa, đội Bắc Hải và hoạt động khai thác, quản lý biển đảo của người Việt có giá trị đặc biệt trong việc khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa. Tri thức trong quan niệm của Lê Quý Đôn luôn gắn với lãnh thổ, nhân dân và lợi ích quốc gia.

Lê Quý Đôn cũng để lại nhiều tư tưởng tiến bộ về giáo dục và đạo trị nước. Ông phê phán lối học tách rời suy nghĩ và hành động, cho rằng nếu điều biết và điều làm khác nhau thì học nhiều cũng không có ích. Với ông, giáo dục không chỉ nhằm tạo ra người đỗ đạt mà phải rèn nhân cách, năng lực suy luận, ý thức pháp luật và trách nhiệm phụng sự. Giá trị cốt lõi trong học thuật Lê Quý Đôn chính là tinh thần thực học: học để hiểu đúng, làm việc có ích, sửa sang việc đời và giúp nước.

Từ di sản Lê Quý Đôn đến khát vọng phát triển đất nước hôm nay

Trong bối cảnh hiện nay, Đảng và Nhà nước xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực quan trọng để thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững đất nước. Cuộc đời và sự nghiệp của Lê Quý Đôn cho thấy những giá trị vượt thời đại. Cách đây gần ba thế kỷ, trong điều kiện khoa học chưa phát triển, tư liệu còn khan hiếm và hoạt động nghiên cứu chủ yếu dựa vào nỗ lực của cá nhân, Lê Quý Đôn đã kiên trì theo đuổi con đường học thuật với tinh thần lao động trí tuệ nghiêm túc và bền bỉ. Dù đảm nhiệm nhiều trọng trách trong bộ máy nhà nước, ông chưa bao giờ xem nhẹ công việc nghiên cứu.

Trong thời gian giữ chức ở Thuận Quảng, giữa bộn bề công vụ, ông vẫn dành thời gian khảo sát thực địa, thu thập tư liệu và hoàn thành tác phẩm Phủ biên tạp lục - một công trình có giá trị lớn về địa lý, lịch sử, kinh tế và văn hóa. Đến năm 1765, sau khi cáo quan trở về quê, ông tiếp tục chuyên tâm trước tác, với tinh thần “đóng cửa làm sách”, để lại một di sản học thuật đồ sộ. Tấm gương say mê nghiên cứu, ý thức tích lũy tri thức và cống hiến không ngừng của Lê Quý Đôn là nguồn cảm hứng quý báu đối với đội ngũ trí thức, nhà khoa học ngày nay trong sự nghiệp phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Suốt một ngàn năm của chế độ phong kiến Việt nam, trước ông và sau ông, không có ai viết nhiều, biết nhiều về các ngành học thuật như Lê Quý Đôn. Về mặt học thuật, Lê Quý Đôn là nhân vật đã làm rạng rỡ cho văn hóa Việt Nam bằng các cống hiến về nhiều mặt của ông[9].

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo các chủ trương của Đảng, nghiên cứu khoa học giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển nhanh và bền vững. Hoạt động nghiên cứu không chỉ hướng tới tiếp thu có chọn lọc những thành tựu khoa học tiên tiến của thế giới mà còn phải kế thừa, khai thác và phát huy di sản tri thức mà các thế hệ đi trước đã dày công vun đắp. Trong dòng chảy ấy, việc nghiên cứu cuộc đời, sự nghiệp và di sản học thuật của Lê Quý Đôn có ý nghĩa đặc biệt. Với khối lượng trước tác đồ sộ, phương pháp khảo cứu công phu, tinh thần học hỏi không ngừng và tư duy bách khoa, ông được xem là một trong những học giả kiệt xuất của lịch sử Việt Nam thời phong kiến.

Việc tiếp tục nghiên cứu, đánh giá và phát huy di sản của Lê Quý Đông không chỉ có ý nghĩa khoa học và lịch sử mà còn góp phần khơi dậy tinh thần sáng tạo, ý chí tự cường và khát vọng cống hiến cho sự phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Tại Hội thảo khoa học kỷ niệm 290 năm ngày sinh Lê Quý Đôn (1726-2016), ngày 1-8-2016 tại tỉnh Thái Bình (nay là tỉnh Hưng Yên), GS, TS Tạ Ngọc Tấn, trong phần tổng kết hội thảo, đã nhấn mạnh ý nghĩa của việc tiếp tục nghiên cứu, bảo tồn và phát huy di sản của Lê Quý Đôn, đồng thời đề xuất các bộ, ngành và tỉnh Thái Bình (nay là tỉnh Hưng Yên) xây dựng lộ trình tôn vinh Lê Quý Đôn hướng tới dịp kỷ niệm 300 năm Ngày sinh của ông vào năm 2026. Kết luận Hội thảo đã khẳng định: “Từ hội thảo này chúng ta thống nhất khẳng định Lê Quý Đôn xứng đáng được tôn vinh là một nhà văn hóa kiệt xuất trên phạm vi toàn thế giới…[10].

Mười năm sau hội thảo đó, năm 2026 - kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Lê Quý Đôn - là dịp để nhìn lại những kết quả đã đạt được trong công tác nghiên cứu và tôn vinh di sản của ông, đồng thời tiếp tục triển khai các hoạt động có chiều sâu nhằm lan tỏa những giá trị mà ông để lại.

*     *

*

Ba trăm năm sau ngày ông cất tiếng khóc chào đời, đất nước Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới với khát vọng xây dựng quốc gia hùng cường, phồn vinh và hạnh phúc. Trong hành trình ấy, những giá trị mà Lê Quý Đôn để lại vẫn mang ý nghĩa thời sự, thời đại sâu sắc: tinh thần hiếu học suốt đời, tư duy khoa học, ý thức đổi mới, lòng yêu nước, niềm tự hào về văn hiến dân tộc và trách nhiệm đối với nhân dân. Ánh sáng trí tuệ của Quế Đường tiên sinh vẫn đang soi rọi con đường phát triển của đất nước, truyền cảm hứng cho các thế hệ học tập, sáng tạo và cống hiến. Và vì thế, Lê Quý Đôn sẽ mãi mãi là ngôi sao sáng trên bầu trời văn hiến Việt Nam, một biểu tượng bất diệt của trí tuệ, nhân cách và khát vọng phụng sự Tổ quốc.


[1] Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007, tr.465.

[2] Trần Tiến, Đăng Khoa lục sưu giảng (bản dịch: Đạm Nguyên), Sài Gòn, 1968, tr.97-98 

[3] Đại Việt sử ký tục biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991, tr.235.

[4] Đại Việt sử ký tục biên, Sđd, tr.263.

[6] Lê Quý Đôn, Quần thư khảo biện, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995, tr.51.

[7] Chánh sứ nước Triều Tiên là Hồng Khải Hy (đỗ đình đối Trạng Nguyên) đã phải khen rằng: “Ông diện mạo sáng sủa, vừa gặp đã biết ngay là bậc anh tài của một nước...” (Quần thư khảo biện, Sđd, tr.57-58).

[8] Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục, tập II, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977, tr.57.

[9] Văn Tân, Lê Quý Đôn cuộc đời và sự nghiệp, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 4 (169), 1976, tr.13-14.

[10] UBND tỉnh Thái Bình, Danh nhân Lê Quý Đôn, cuộc đời và sự nghiệp, Sở Vă hóa Thể thao và Du lịch Thái Bình, 2016, tr.565.