Hơn 15 năm thực tiễn đã đủ để nhìn Dự án 174 không chỉ bằng những kết quả đạt được mà cả những vấn đề đang đặt ra. Trước hết là giới hạn của thời gian 24 tháng. Hai năm dài hơn nhiều so với một chiến dịch tình nguyện ngắn hạn, đủ để trí thức trẻ tình nguyện (TTTTN) hiểu địa bàn, trải qua một số mùa vụ và xây dựng quan hệ với cộng đồng. Nhưng thay đổi tập quán sản xuất, xây dựng một hợp tác xã hoạt động thực chất hay nâng cao năng lực tự tổ chức của cộng đồng thường cần thời gian dài hơn. Vì vậy, mỗi đợt TTTTN không thể là một chu kỳ khép kín. Người đến sau cần biết người đi trước đã làm gì, mô hình nào thành công, mô hình nào không phù hợp, vấn đề nào còn dang dở. Dự án càng kéo dài, kinh nghiệm của tổ chức càng phải được tích lũy để tri thức không đến rồi lại đi theo từng lớp đội viên.
 |
|
Trí thức trẻ tình nguyện Công ty TNHH MTV Cà phê 15 (Quân khu 5) và cán bộ đơn vị hướng dẫn người dân xã Quảng Sơn, tỉnh Lâm Đồng kỹ thuật trồng cà phê năng suất cao. Ảnh: VIỆT HÙNG
|
Việc tuyển chọn và sử dụng TTTTN cũng cần tiếp tục bám sát nhu cầu thực tế của từng khu kinh tế-quốc phòng (KT-QP). Các hoạt động dân vận, văn hóa, xã hội, giúp dân khắc phục thiên tai đều cần thiết và là môi trường rèn luyện tốt, nhưng nét riêng của Dự án 174 nằm ở tri thức chuyên môn. Nếu người được đào tạo về nông nghiệp, y tế, công nghệ, pháp luật hay phát triển cộng đồng không có đủ điều kiện sử dụng chuyên môn thì dự án vẫn tạo được một hoạt động tình nguyện có ý nghĩa, nhưng chưa khai thác hết giá trị riêng của mình.
Yêu cầu ấy càng rõ khi các khu KT-QP hôm nay đã thay đổi khá nhiều so với năm 2010. Có địa bàn không còn cần hướng dẫn canh tác truyền thống mà cần tri thức về chuỗi giá trị, chế biến, xây dựng thương hiệu và thương mại điện tử; chính quyền cơ sở chuyển đổi số cần thêm năng lực công nghệ và dữ liệu; những vùng thường xuyên chịu thiên tai cần kiến thức về môi trường và thích ứng khí hậu. Địa bàn thay đổi thì cơ cấu tri thức đưa tới địa bàn cũng phải thay đổi. Bởi vậy, điều cần khảo sát trước mỗi đợt không chỉ là cần bao nhiêu người, thuộc chuyên ngành nào mà sâu hơn là: Vấn đề phát triển nào của khu KT-QP đang cần tri thức để giải quyết?
Cùng với đó là câu hỏi về con đường của TTTTN sau 24 tháng. Không phải tất cả đội viên hoàn thành dự án đều được giữ lại trong môi trường đoàn KT-QP hay ở địa phương. Nhưng những người có năng lực, đã chứng minh khả năng làm việc tại địa bàn và mong muốn tiếp tục gắn bó cần có thêm cơ hội để kinh nghiệm hai năm trở thành một giá trị nghề nghiệp. Địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã, các tổ chức xã hội và chính các đoàn KT-QP khi có nhu cầu phù hợp đều có thể là những không gian để nguồn nhân lực ấy tiếp tục phát huy. Không thể giữ một trí thức trẻ ở địa bàn chỉ bằng lời kêu gọi cống hiến. Sức hấp dẫn của tình nguyện có thể đưa họ đến trong hai năm; nhưng để người có năng lực muốn ở lại lâu hơn, phải có môi trường để họ tiếp tục trưởng thành bằng chính chuyên môn của mình.
 |
Trí thức trẻ tình nguyện Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 737 (Quân khu 5) phụ đạo hè cho các em nhỏ xã biên giới Ia Rvê, tỉnh Đắk Lắk. Ảnh: VIỆT HÙNG
|
Chính tại đây, hai chiều vận động của dự án gặp nhau. TTTTN mang kiến thức chuyên môn tới các khu KT-QP; các khu KT-QP đem thực tiễn trở lại với TTTTN. Tri thức khoa học góp phần thay đổi cách sản xuất, chăm sóc sức khỏe, giáo dục và tổ chức đời sống; còn bộ đội các đoàn KT-QP, đồng bào và bản làng lại dạy cho trí thức trẻ cách biến kiến thức thành hành động. Một phía tạo thêm năng lực cho địa bàn; phía kia góp phần hình thành những trí thức trẻ có trải nghiệm xã hội, khả năng thích ứng và ý thức trách nhiệm cộng đồng.
Vì vậy, nếu chỉ xem Dự án 174 là một chương trình bổ sung nhân lực cho các đoàn KT-QP thì chưa đủ; nếu chỉ xem đó là một hình thức để TTTTN cống hiến cũng chưa đầy đủ. Nét riêng của dự án nằm ở việc tạo ra một không gian để tri thức và thực tiễn gặp nhau thông qua môi trường rất đặc biệt: TTTTN sống và làm việc cùng bộ đội đoàn KT-QP, rồi cùng bộ đội đến với nhân dân.
Hơn 15 năm cũng cho thấy không phải mọi mô hình đều thành công, không phải chuyên môn của đội viên ở đâu cũng phù hợp như nhau và không phải TTTTN nào sau hai năm cũng tiếp tục gắn bó với địa bàn. Điều đó không làm giảm giá trị của dự án. Trái lại, chính những kết quả đạt được và cả những điều chưa đạt được tạo thành vốn kinh nghiệm để dự án bước vào giai đoạn trưởng thành hơn. Đến năm 2026, dự án vẫn đang được triển khai trong chặng 2021-2030; vì thế, tổng kết không phải để khẳng định một mô hình đã hoàn thiện mà để nhận ra những gì cần giữ, những gì phải điều chỉnh và những khoảng trống cần tiếp tục lấp đầy.
Thước đo thành công vì vậy cũng cần đi xa hơn số đội viên được tuyển, số mô hình được xây dựng hay số lượt người được hỗ trợ. Cần biết bao nhiêu cách làm vẫn tiếp tục tồn tại; bao nhiêu người dân đã có thể tự làm điều trước đây còn cần cán bộ hướng dẫn; bao nhiêu tổ chức cộng đồng có thêm năng lực; bao nhiêu TTTTN trưởng thành thành nguồn nhân lực có giá trị và bao nhiêu kinh nghiệm của đợt trước đã trở thành tài sản của đợt sau. Đó là bước chuyển từ đo những hoạt động đã thực hiện sang đo những năng lực thực sự được tạo ra.
Hơn 15 năm trước, Dự án 174 bắt đầu từ một ý tưởng mới trên nền một truyền thống đẹp của tuổi trẻ Việt Nam: Đưa những TTTTN đến sống và làm việc hai năm cùng cán bộ, chiến sĩ đoàn KT-QP trên những địa bàn còn nhiều khó khăn. Thời gian đã cho phép nhìn ý tưởng ấy đầy đủ hơn.
Khi đến khu KT-QP, nhiều TTTTN vừa rời trường học. Họ mang theo kiến thức chuyên môn, khát vọng cống hiến và cả những bỡ ngỡ của lần đầu bước vào một môi trường sống rất khác. Khi trở về, hành trang đã có thêm những điều không mang theo lúc đến: Ký ức về những con đường xuống bản, một mùa vụ cùng người dân làm chưa thành công rồi làm lại, một người lớn tuổi lần đầu biết chữ, một đứa trẻ vẫn chờ buổi học, những lần cùng bộ đội giúp dân sau thiên tai và cả nhận thức về giới hạn của những kiến thức mình từng nghĩ đã đủ.
Còn ở địa bàn, những gì TTTTN để lại không phải lúc nào cũng là một công trình hay mô hình có thể nhìn thấy. Có thể chỉ là một hộ gia đình vẫn áp dụng cách chăn nuôi đã được hướng dẫn, một người dân tự đọc được giấy tờ của mình, một hợp tác xã vẫn duy trì hoạt động, một cán bộ cơ sở có thêm phương pháp làm việc hay một người từng được hướng dẫn, nay có thể chỉ lại cho hàng xóm. Và còn những điều không thể đưa hết vào báo cáo tổng kết.
Sau hai năm cùng ở, cùng làm, có những cuộc chia tay mà người dân tiễn một cán bộ trẻ từng xuống ruộng với họ, chữa bệnh, dạy con học hay ngồi trong căn nhà nhỏ bàn chuyện làm ăn. Cán bộ, chiến sĩ đoàn KT-QP chia tay những người từ chỗ là đội viên dự án đã trở thành đồng đội thân quen. Một bữa cơm, cái bắt tay, lời dặn dò hay món quà nhỏ của đồng bào có thể là tất cả những gì hiện hữu trong buổi chia tay. Rồi người TTTTN rời đi, công việc ở bản vẫn tiếp tục, nhưng dường như thiếu đi một gương mặt đã trở nên quen thuộc.
Không cần làm lớn những tình cảm ấy. Chính sự bình dị của nó nói lên một giá trị rất con người của Dự án 174: Tri thức đã không đến với cộng đồng bằng một quan hệ xa lạ mà đi qua quá trình con người sống với con người, cùng làm việc, cùng chia sẻ khó khăn và dần tin cậy nhau.
Không phải mọi hạt giống tri thức đều nảy mầm. Không phải tất cả những gì TTTTN làm trong hai năm đều ở lại. Nhưng khi một phần trong số đó tiếp tục sống trong cách làm của người dân, trong năng lực của cộng đồng, trong kinh nghiệm của đoàn KT-QP và trong chính những người trẻ từng đi qua những địa bàn ấy, giá trị của dự án không kết thúc cùng một nhiệm kỳ 24 tháng. Như vậy: Tri thức ở lại với khu KT-QP. Và khu KT-QP ở lại trong TTTTN. Khi hai điều ấy cùng xảy ra, hai năm tình nguyện không chỉ là một quãng thời gian mà trở thành một sự trao truyền.