Dự án 174 không chỉ đưa trí thức trẻ về các khu KT-QP mà tạo nên sự kết nối giữa tri thức chuyên môn, kinh nghiệm của người lính và vốn sống của đồng bào. Qua những tháng, năm bám địa bàn, những kiến thức từ giảng đường được chuyển hóa thành cách làm cụ thể, giúp người dân từng bước tự làm, tự phát triển; đồng thời chính thực tiễn vùng khó cũng trở thành “trường học” đặc biệt, rèn luyện bản lĩnh, trách nhiệm và năng lực thực hành cho một thế hệ trí thức trẻ.

Trí thức trẻ tình nguyện Đoàn Kinh tế-Quốc phòng 4 (Quân khu 4) tham gia cùng các lực lượng xóa nhà tạm cho người dân trên địa bàn xã Na Ngoi, tỉnh Nghệ An. Ảnh: VĂN CÔNG

Trong lịch sử các phong trào thanh niên Việt Nam, tình nguyện là một mạch nguồn bền bỉ. Qua nhiều thế hệ, tinh thần “đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên” đã đưa lớp lớp thanh niên, trí thức trẻ đến những nơi đất nước cần họ. Mỗi thời kỳ có những nhiệm vụ khác nhau, nhưng phía sau vẫn là một giá trị chung: Tuổi trẻ tìm thấy ý nghĩa của mình trong sự cống hiến cho cộng đồng.

Dự án 174 được xây dựng trên nền truyền thống ấy, nhưng đã tạo ra một cách làm mới. Đưa thanh niên đi tình nguyện trong một chiến dịch là một việc; tổ chức để những trí thức trẻ đã được đào tạo chuyên môn đến sống và làm việc 24 tháng tại các khu KT-QP, có tuyển chọn, phân công, quản lý, chế độ, chính sách và nhiệm vụ cụ thể lại là một việc khác.

Sự ra đời của dự án bắt nguồn từ một nhu cầu rất thực tế. Các đoàn KT-QP có ưu thế về tổ chức, kỷ luật, khả năng bám địa bàn và quan hệ với nhân dân. Cán bộ, chiến sĩ có thể đến những nơi xa xôi, cùng ăn, cùng ở, cùng làm với đồng bào; tổ chức lực lượng khi thiên tai xảy ra; xây dựng hạ tầng, làm công tác dân vận và phối hợp với chính quyền cơ sở. Nhưng nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội ngày càng rộng và chuyên sâu. Một cán bộ giỏi dân vận không đồng thời có thể là kỹ sư nông nghiệp, bác sĩ thú y, cán bộ y tế, giáo viên hay chuyên gia phát triển cộng đồng. Trong khi đó, các địa bàn khu KT-QP lại rất cần những kiến thức ấy.

Bộ Quốc phòng đã tìm lời giải không phải bằng cách mở rộng biên chế theo lối thông thường, mà bằng việc kết nối hai nguồn lực: Những người lính KT-QP đang bám địa bàn với những trí thức trẻ có chuyên môn, sức trẻ và khát vọng cống hiến. Dự án 174 trở thành cầu nối để hai nguồn lực ấy gặp nhau.

Thông tư số 92/2010/TT-BQP ngày 5-7-2010 của Bộ Quốc phòng quy định đội viên được tuyển trong độ tuổi từ 20 đến 30, tốt nghiệp đại học, cao đẳng hoặc trung học chuyên nghiệp, có sức khỏe, phẩm chất tốt và tự nguyện công tác tại khu KT-QP; mỗi đợt kéo dài 24 tháng. Đáng chú ý, nhu cầu về số lượng và chuyên ngành được xác định từ thực tế của các đoàn KT-QP. Điều đó làm cho chữ “trí thức” trong tên dự án có nội hàm thực chất: Nơi cần phát triển nông, lâm nghiệp thì cần chuyên môn trồng trọt, chăn nuôi, thú y; nơi cần nâng cao đời sống xã hội có thể cần y tế, giáo dục, văn hóa; địa bàn cần củng cố năng lực quản trị lại có nhu cầu về pháp luật, hành chính, kinh tế, công nghệ hay phát triển nông thôn.

Trí thức trẻ cũng không đến bản làng như những cá nhân hoạt động độc lập. Họ được tổ chức trong môi trường các đoàn KT-QP, làm việc cùng cán bộ, chiến sĩ và phối hợp với chính quyền, cộng đồng. Chính cấu trúc ấy tạo nên nét đặc biệt của dự án: Chuyên môn của TTTTN gặp kinh nghiệm địa bàn và năng lực tổ chức của bộ đội; cả hai lại gặp tri thức bản địa của nhân dân. Nếu được kết nối đúng, 3 nguồn lực có thể bổ sung cho nhau.

Mười năm đầu triển khai dự án đã cho những kết quả đáng chú ý. Giai đoạn 2010-2020, các đoàn KT-QP tuyển dụng 5 đợt với 2.648 lượt đội viên, mỗi đợt 24 tháng. TTTTN tham gia củng cố hàng trăm tổ chức, đoàn thể ở cơ sở; phủ xanh hơn 26.000ha đất trống, đồi trọc; hướng dẫn kỹ thuật canh tác trên hàng nghìn héc-ta cây trồng; hỗ trợ kỹ thuật chăn nuôi cho nhiều hộ dân; tham gia xây dựng, sửa chữa 438km đường giao thông và kiên cố hóa 355km kênh mương. Năm 2021, dự án được tiếp tục đến năm 2030 với 2.500 chỉ tiêu trong 5 đợt. Việc một chính sách mới được tiếp tục thêm một chặng dài không có nghĩa mọi khâu đã hoàn thiện, nhưng cho thấy ý tưởng ban đầu đã chứng minh được sức sống trong thực tiễn.

Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn dự án bằng những con số ấy thì vẫn chưa chạm tới giá trị đáng quan tâm nhất. Câu hỏi quan trọng hơn là: Tri thức của TTTTN đã đi vào đời sống của các khu KT-QP như thế nào?

Ở Bắc Lâm Đồng, việc đó có khi bắt đầu rất giản dị từ những con chữ. Đoàn KT-QP Lâm Đồng cùng TTTTN đã tổ chức 10 lớp xóa mù chữ, giúp hơn 270 người dân tộc thiểu số biết đọc, biết viết và sử dụng tiếng phổ thông. Với một người trưởng thành từng không biết chữ, thay đổi ấy không chỉ nằm ở khả năng đọc một tờ giấy. Họ có thể xem hướng dẫn sử dụng thuốc, tiếp cận thông tin kỹ thuật, hiểu giấy tờ hành chính và bớt phải phụ thuộc vào người khác trong những công việc của chính mình. Tri thức ở đây đã đi vào bên trong con người và mở đường cho họ tiếp cận những tri thức khác.

Ở Tứ giác Long Xuyên, một TTTTN tốt nghiệp chuyên ngành phát triển nông thôn tham gia cùng cơ sở xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, vận động thành lập hợp tác xã nông nghiệp. Tại các xã đảo, TTTTN tham gia dạy học, hỗ trợ thiếu nhi và hoạt động cộng đồng. Một hợp tác xã nếu tiếp tục vận hành sau khi người vận động thành lập đã rời đi, một phương pháp làm việc được cán bộ cơ sở tiếp tục sử dụng thì tri thức đã chuyển từ cá nhân sang tổ chức.

Ở Mường Lát, Phong Thổ, Sông Mã và nhiều địa bàn khác, TTTTN cùng cán bộ Đoàn xuống từng hộ hướng dẫn làm chuồng trại, trồng cỏ, chăm sóc vật nuôi, sử dụng giống cây mới và phòng bệnh. Sự khác biệt không chỉ ở nội dung khuyến nông mà còn ở thời gian họ sống tại địa bàn. Họ có thể trở lại một gia đình nhiều lần, nhìn thấy cây không phát triển, vật nuôi mắc bệnh, nhận ra kỹ thuật hướng dẫn chưa phù hợp rồi cùng người dân điều chỉnh. “Cầm tay chỉ việc”, nếu hiểu đúng, không phải làm thay, mà là rút ngắn khoảng cách từ biết đến làm, để cuối cùng người dân không còn cần người hướng dẫn đứng bên cạnh.

Đó cũng là một thước đo cần thiết của Dự án 174. Không chỉ hỏi bao nhiêu mô hình đã được xây dựng, mà cần biết bao nhiêu mô hình vẫn được người dân tiếp tục áp dụng; không chỉ đếm số lớp tập huấn mà phải xem kiến thức nào đã trở thành cách làm; không chỉ tính số người được hướng dẫn mà cần biết có bao nhiêu người sau đó có thể hướng dẫn lại cho cộng đồng.

Nhưng trong quá trình ấy còn diễn ra một sự chuyển hóa khác, rất khó biểu hiện bằng số liệu.

TTTTN từ nhiều miền quê, phần lớn vừa rời trường học, đến với những đoàn KT-QP mà trước đó họ hầu như chưa biết nhiều. Những cán bộ, chiến sĩ KT-QP trở thành những người đồng hành đầu tiên: Chỉ đường xuống bản, giới thiệu già làng, trưởng bản, giải thích phong tục của đồng bào, cùng đi đến từng gia đình và chỉ cho họ cách làm dân vận. Từ những người lính đã nhiều năm bám nắm địa bàn, TTTTN dần hiểu rằng muốn giúp dân trước hết phải hiểu dân và được dân tin.

Hai năm sống trong môi trường Quân đội cũng đem lại những bài học không có trong giáo trình chuyên môn. Đó là tính kỷ luật, trách nhiệm với công việc, sức chịu đựng trước khó khăn và sự kiên trì khi một mô hình chưa thành công. TTTTN học ở bộ đội cách xuống với dân không chỉ khi có dự án; học cách lắng nghe trước khi vận động; học rằng giúp dân không đồng nghĩa với làm thay cho dân.

Ở chiều ngược lại, sự có mặt của TTTTN mang đến các đoàn KT-QP sức trẻ, kiến thức chuyên môn và sự nhạy bén với những cách làm mới. Những kỹ sư, cán bộ y tế, giáo viên và trí thức trẻ bổ sung những năng lực mà biên chế của một đơn vị khó có thể bao quát hết; đồng thời mang thêm không khí trẻ trung vào đời sống đơn vị và những bản làng nơi họ công tác.

Từ đơn vị Quân đội, họ đi vào bản. Ban đầu có thể vẫn là những gương mặt xa lạ. Nhưng qua nhiều tháng cùng xuống ruộng, lên nương, mở lớp học, khám bệnh, giúp dân khắc phục thiên tai, họ dần trở thành những cán bộ trẻ quen thuộc mà bà con có việc lại tìm đến.

Sau hai năm, nhiều người hiểu sâu hơn: Biết một điều và làm cho điều ấy có ích trong thực tiễn là hai trình độ khác nhau. Một giống cây tốt chưa chắc phù hợp với một gia đình thiếu vốn; mô hình thành công ở nơi này có thể không phù hợp nơi khác; cách vận động đúng về nội dung nhưng không hiểu văn hóa cộng đồng vẫn có thể không được tiếp nhận. Người thầy của TTTTN vì thế không chỉ là những gì đã học ở trường mà còn là cán bộ Đoàn đã nhiều năm bám bản, một trưởng bản, người nông dân hiểu từng mùa cây trên đất của mình, hay chính hộ nghèo khiến người kỹ sư trẻ nhận ra mô hình đề xuất tuy đúng về kỹ thuật nhưng vượt quá khả năng thực hiện.

Tri thức khoa học gặp tri thức bản địa; sức trẻ gặp kinh nghiệm và kỷ luật của người lính. Hai năm ở khu KT-QP vì thế vừa là thời gian cống hiến, vừa có thể trở thành một giai đoạn “đào tạo sau nhà trường” rất đặc biệt.

(còn nữa)