Điểm rất mới và có ý nghĩa chiến lược của Kết luận 18 là đã xác định rõ: KHCN, đổi mới sáng tạo, CĐS và kinh tế số (KTS) không còn là lĩnh vực hỗ trợ phát triển mà trở thành động lực tăng trưởng chủ yếu của nền kinh tế trong giai đoạn mới. Đây là bước chuyển rất căn bản về tư duy phát triển quốc gia, chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào vốn, tài nguyên và lao động sang mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, công nghệ, dữ liệu và năng suất lao động cao. Yêu cầu này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Bộ Quốc phòng, không chỉ nhằm mục tiêu phát triển kinh tế đơn thuần mà còn gắn trực tiếp với xây dựng tiềm lực quốc phòng, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ, bảo vệ chủ quyền số quốc gia và xây dựng Quân đội chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.
Quán triệt sâu sắc các chủ trương của Đảng, Nhà nước về CĐS quốc gia, phát triển KTS, Bộ Quốc phòng thời gian qua đã triển khai nhiều nhiệm vụ, giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển KTS trong toàn quân, đạt được một số kết quả quan trọng, tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển mới. Giai đoạn đầu, KTS chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ quản lý hành chính thì nhiều đơn vị, doanh nghiệp Quân đội (DNQĐ) đến nay đã bắt đầu tiếp cận theo hướng coi KTS là động lực quan trọng, gắn với nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp.
Trong bảo đảm nguồn lực thực hiện các mục tiêu tăng trưởng KTS, Bộ Quốc phòng cũng đã bố trí kinh phí hỗ trợ cho một số cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp thực hiện các nhiệm vụ/dự án về phát triển KTS, trong đó có những dự án ứng dụng công nghệ hiện đại blockchain vào quá trình truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Dự án sàn giao dịch thương mại điện tử dành cho các DNQĐ đã hỗ trợ hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại tại các đơn vị, doanh nghiệp.
Việc đẩy mạnh ứng dụng KHCN, CĐS, tự động hóa trong thời gian qua không chỉ làm thay đổi phương thức quản trị, điều hành doanh nghiệp mà còn trực tiếp nâng cao hàm lượng công nghệ trong các sản phẩm quốc phòng, sản phẩm kinh tế do DNQĐ sản xuất. Nhiều dây chuyền sản xuất đã từng bước chuyển từ mô hình gia công, lắp ráp truyền thống sang mô hình sản xuất số, sản xuất thông minh với mức độ tự động hóa cao, giúp nâng cao độ chính xác, tính đồng bộ và khả năng kiểm soát chất lượng sản phẩm.
Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội (Viettel) đang chuyển mạnh từ doanh nghiệp viễn thông sang doanh nghiệp công nghệ số toàn cầu. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (MB) hoạt động, vận hành, kinh doanh cũng đã dựa trên dữ liệu và trí tuệ nhân tạo. Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn cũng hình thành hệ sinh thái logistics số, cảng biển thông minh. Nhiều nhà máy quốc phòng đã bước đầu ứng dụng tự động hóa, quản trị số và mô hình nhà máy thông minh trong sản xuất. Việc ứng dụng các hệ thống thiết kế, mô phỏng số, điều khiển tự động, quản trị dữ liệu kỹ thuật, công nghệ sản xuất tiên tiến trong các nhà máy công nghiệp quốc phòng đã góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu, cải tiến, chế tạo, hiện đại hóa một số loại vũ khí, trang bị kỹ thuật, rút ngắn thời gian sản xuất, giảm tiêu hao vật tư, nâng cao hệ số sẵn sàng kỹ thuật... tạo tiền đề hình thành mô hình công nghiệp quốc phòng thông minh trong tương lai.
Với các sản phẩm kinh tế, CĐS cũng đã giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tối ưu chuỗi cung ứng và giảm chi phí vận hành, nâng cao sức cạnh tranh, mở rộng kênh phân phối, tiêu thụ, chuyển dịch từ tăng trưởng dựa vào quy mô sang tăng trưởng dựa vào công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo. Đây chính là nền tảng quan trọng để DNQĐ nâng cao giá trị sản xuất, tạo động lực tăng trưởng mới, thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số.
 |
| Công nhân Phân xưởng A15, Nhà máy Z131, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng điều khiển hệ thống robot tự động trong sản xuất. Ảnh: GIA MINH |
Tuy nhiên, ngoài kết quả đạt được, công tác phát triển KTS trong Quân đội vẫn còn những hạn chế nhất định. Không ít đơn vị, doanh nghiệp vẫn còn tư duy coi CĐS chủ yếu là ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ quản lý hành chính. Việc bố trí nguồn lực tài chính cho phát triển KTS ở không ít đơn vị, doanh nghiệp vẫn chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ, chưa tập trung, chưa mang tính chiến lược, thiếu liên thông và còn phân tán, chưa phục vụ hiệu quả công tác quản trị và ra quyết định. Nếu không có cơ chế huy động và phân bổ nguồn lực tài chính phù hợp, thay đổi mạnh mẽ tư duy phát triển coi dữ liệu là tài sản chiến lược; dành nguồn vốn cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược, năng lực số cốt lõi sẽ khó tạo được các động lực tăng trưởng mới, bước đột phá mới về năng suất, chất lượng, năng lực cạnh tranh của DNQĐ trong giai đoạn tới.
Vì vậy, giai đoạn 2026-2030, các đơn vị, DNQĐ cần xác định phát triển KTS là nhiệm vụ chiến lược trọng tâm, gắn trực tiếp với mục tiêu tăng trưởng hai con số. Các đơn vị, DNQĐ cần xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển KTS phù hợp với đặc thù ngành nghề, lĩnh vực ưu tiên; chuyển đổi từ sản xuất truyền thống sang sản xuất số, quản trị số, dịch vụ số. Tập trung đầu tư cho hạ tầng dữ liệu; số hóa quy trình nghiệp vụ trong tất cả các khâu (nghiên cứu-thiết kế-mô phỏng-sản xuất-phân phối); hình thành kiến trúc dữ liệu tổng thể và đội ngũ chuyên gia dữ liệu, chuyên gia AI phục vụ chiến lược phát triển dài hạn. Khai thác hiệu quả các quỹ KHCN, đổi mới sáng tạo, nguồn lực hợp pháp khác để tạo đột phá về công nghệ và năng lực cạnh tranh; gắn phát triển KTS với xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh, chủ quyền số quốc gia. Đây là thách thức rất lớn nhưng cũng là cơ hội chiến lược để DNQĐ bứt phá mạnh mẽ trong thời gian tới, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng hai con số, xây dựng tiềm lực quốc phòng hiện đại, bảo vệ vững chắc chủ quyền số quốc gia trong kỷ nguyên mới của dân tộc.