Đột phá tư duy

Điều 11 có 3 nội dung chính thể hiện sự đột phá trong tư duy quản lý VHNT, phù hợp với xu thế chung của thế giới, huy động sự chung tay của toàn dân trong sự nghiệp phát triển VHNT.

Đầu tiên, Quốc hội cho phép thí điểm thành lập quỹ ở Trung ương và một số địa phương. Thời gian thí điểm tối đa đến năm 2035. Quỹ hoạt động theo mô hình hợp tác công-tư, là quỹ đầu tư mạo hiểm, hoạt động theo nguyên tắc thị trường, chấp nhận khả năng rủi ro, bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả, chống thất thoát, lãng phí vốn. Việc cho phép một số địa phương được lập quỹ bên cạnh quỹ ở Trung ương bảo đảm cho những địa phương có tiềm lực, có điều kiện thuận lợi được chủ động huy động nguồn lực đầu tư, tài trợ cho VHNT. Vốn dĩ sản phẩm VHNT không thể dự báo mức độ thành công, sức ảnh hưởng do không thể nắm bắt được thị hiếu, cho nên việc xác định tính chất của quỹ là quỹ đầu tư mạo hiểm là vô cùng đúng đắn. Điều này cho phép quỹ có thể mạnh dạn tài trợ cho những dự án mới mẻ, có mức độ rủi ro nhất định.

Điều 11 còn quy định rõ quỹ ở Trung ương do Thủ tướng Chính phủ thành lập, quỹ ở địa phương do chủ tịch UBND cấp tỉnh thành lập. Người có thẩm quyền thành lập quỹ quyết định tỷ lệ vốn góp từ ngân sách nhà nước, tổng mức vốn nhà nước trong vốn điều lệ của quỹ phù hợp với tình hình thực tiễn và khả năng huy động nhà đầu tư tham gia thành lập quỹ. Với quy định cụ thể kể trên, cho phép quỹ có tính chính danh, chính thống; dễ dàng kêu gọi các nhà đầu tư, nhà tài trợ đóng góp cho quỹ.

Cuối cùng, Quốc hội quy định quỹ được cấp vốn điều lệ từ ngân sách Trung ương hoặc địa phương, được cấp một lần và được nhận tài trợ, huy động các nguồn vốn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật nhằm mục tiêu tài trợ, hỗ trợ, đầu tư cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực VHNT; chương trình, dự án VHNT có tính sáng tạo đột phá, có tiềm năng thị trường và khả năng thương mại, khả năng lan tỏa, tác động xã hội mà không được ngân sách nhà nước cấp kinh phí. Không chỉ nước ta mà bất cứ quốc gia nào cũng không thể bao cấp toàn bộ cho các hoạt động VHNT. Cho nên, ngân sách nhà nước chỉ cấp một lần cho quỹ thực chất chính là “vốn mồi”, từ đó thu hút nguồn lực xã hội.

Quỹ Văn hóa, nghệ thuật sẽ hỗ trợ để có các sản phẩm sáng tạo lấy cảm hứng từ nghệ thuật truyền thống nhằm phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân và các hoạt động du lịch. Trong ảnh: Lớp tập huấn múa dân gian Tây Nguyên do Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Đắk Lắk tổ chức, tháng 10-2025. Ảnh: THÚY AN 

Trao đổi với chúng tôi, nhà thơ Nguyễn Thúy Quỳnh, Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên cho biết: Tỉnh ủy Thái Nguyên vừa phê duyệt Đề án phát triển văn học, nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2026-2030. Nếu tỉnh Thái Nguyên thành lập quỹ sẽ giúp hoàn thành các mục tiêu đề án đưa ra. Quỹ không chỉ thu hút được nguồn vốn xã hội, quan trọng không kém là sẽ đa dạng hóa hình thức cấp vốn, giúp các dự án được triển khai nhanh chóng, phát huy hiệu quả trong đời sống.

Quỹ VHNT đã xuất hiện hàng chục năm trước nhưng thường “chết yểu” hoặc hoạt động không hiệu quả. Nguyên nhân là nhiều quỹ vẫn mang nặng tư duy cấp phát, xin-cho; chưa thật sự coi VHNT là lĩnh vực có thể đầu tư, có thể tạo giá trị tích cực cho xã hội, có thể sinh lời về kinh tế. Bên cạnh đó, tiêu chí lựa chọn dự án chưa rõ, năng lực thẩm định văn hóa-thị trường còn hạn chế, cơ chế chấp nhận rủi ro chưa có nên người quản lý thường ngại làm, người sáng tạo khó tiếp cận, còn nguồn lực xã hội chưa đủ niềm tin để tham gia lâu dài.

Không nên xem quỹ là “két tiền”

Chính phủ đang nghiên cứu và sẽ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội, trong đó có Điều 11. Các chuyên gia, nhà khoa học, văn nghệ sĩ mà Báo Quân đội nhân dân có dịp trao đổi đều nhấn mạnh: Quan trọng là Chính phủ cần có quy định chi tiết để tránh việc vận hành quỹ gặp những điểm nghẽn về sau. Chẳng hạn, cần làm rõ nguồn vốn từ quỹ cấp cho dự án là tài trợ hay là đầu tư? Thông thường, các quỹ VHNT trên thế giới đều theo hình thức tài trợ. Bản chất tài trợ là không bắt buộc sản phẩm VHNT phải sinh lời; nếu có lợi nhuận thì tác giả dự án được hưởng, không phải hoàn trả kinh phí được quỹ cấp. 

Một lo ngại khác có thể nhìn thấy trước chính là cơ chế quản lý quỹ có thể thiếu minh bạch, quỹ phục vụ cho nhóm lợi ích, dẫn đến thất thoát, lãng phí, xa rời mục đích tốt đẹp ban đầu. Kinh nghiệm từ quản lý quỹ trên thế giới là cần hội đồng quản lý quỹ. Tất nhiên, cần có lãnh đạo Nhà nước, chính quyền địa phương tham gia hội đồng quản lý quỹ để tạo thuận lợi về thủ tục hành chính, tạo uy tín kêu gọi nguồn lực xã hội hóa. Song hội đồng quản lý quỹ không được can thiệp vào công việc của hội đồng thẩm định dự án. Theo PGS, TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội: Quan trọng là phải thiết kế cơ chế quản trị độc lập, chuyên nghiệp, có hội đồng thẩm định gồm chuyên gia VHNT, tài chính, công nghệ, thị trường, pháp lý.

Nhìn thẳng vào sự thật, ở nước ta, tài trợ cho VHNT không phát triển mạnh. Nếu chỉ trông chờ vào sự hảo tâm của các nhà tài trợ thì nguồn lực cho quỹ sẽ không bền vững, do đó đòi hỏi cơ chế huy động vốn linh hoạt. Tìm hiểu mô hình huy động vốn cho quỹ, họa sĩ, giám tuyển Nguyễn Thế Sơn (Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội) cho biết: Nhà nước thường huy động nguồn vốn cho quỹ thông qua nhiều công cụ (phát hành xổ số, lợi nhuận dịch vụ karaoke, quảng cáo...), đặc biệt là công cụ thuế. Một số nước phát triển cho phép cá nhân nộp thuế thu nhập cá nhân bằng cách nộp số tiền đó vào quỹ VHNT. Nhà nước sẽ không phải mất công thu thuế rồi lấy tiền thuế chi cho hoạt động VHNT. Ngân sách nhà nước hay nguồn lực xã hội hóa đều được gọi chung là vốn xã hội. Công việc của Nhà nước chính là nắn dòng vốn xã hội vào các quỹ VHNT một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Riêng với huy động nguồn lực xã hội hóa, tất nhiên phải có ưu đãi đi kèm.  

Một việc khó nhất liên quan đến quỹ chính là đánh giá hiệu quả. Rõ ràng, không thể đánh giá mức độ thành công của dự án VHNT bằng lợi nhuận, mà cả bằng tác động xã hội, khả năng hình thành thương hiệu, tạo việc làm sáng tạo, quảng bá hình ảnh quốc gia và nuôi dưỡng tài năng. Như vậy, muốn quỹ vận hành hiệu quả, không nên coi quỹ là “két tiền”, mà phải là một thiết chế đầu tư cho tương lai sáng tạo của đất nước.

 VHNT vốn rộng lớn, lĩnh vực nào cũng quan trọng, vậy quỹ ưu tiên chi cho lĩnh vực nào? Bản chất ngân sách nhà nước chi cho VHNT là để đáp ứng dịch vụ công, thiết yếu, không thể thay thế. Cho nên cần xác định đúng sứ mệnh của quỹ là không thay ngân sách thường xuyên mà hỗ trợ những ý tưởng sáng tạo có tiềm năng đột phá, có khả năng lan tỏa và thương mại hóa. Quỹ cần có danh mục ưu tiên rõ ràng các ngành VHNT mũi nhọn như: Điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, thiết kế sáng tạo, nội dung số...