Tài trợ là công cụ để văn học-nghệ thuật phát triển

Tài trợ (hay còn gọi là bảo trợ) VHNT là việc các cá nhân, tổ chức cung cấp nguồn lực để hỗ trợ các nghệ sĩ, dự án sáng tạo và các thiết chế văn hóa. Khác với hình thức đầu tư buộc phải mang về lợi nhuận, chủ thể tài trợ thường không kỳ vọng nguồn lực bỏ ra sẽ mang lại giá trị kim tiền. Tất nhiên, ở một số trường hợp, việc tài trợ VHNT sẽ mang lại lợi nhuận gián tiếp cho các doanh nghiệp, ví dụ mang lại giá trị thương hiệu và uy tín trong xã hội. Ở Việt Nam hiện nay, hoạt động tài trợ không còn rời rạc mà dần hình thành cấu trúc rõ ràng hơn, vận hành ở 3 cấp độ gồm Nhà nước, các tổ chức quốc tế và tư nhân.

Các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đều sử dụng ngân sách công tài trợ cho VHNT với cách làm và mức độ khác nhau. Nhưng dù có là cường quốc kinh tế thì cũng không thể nào tài trợ toàn bộ cho mọi hoạt động VHNT bởi chi phí quá lớn, hiệu quả mang lại có khi không được như kỳ vọng và khi đó sẽ phải chịu áp lực chất vấn từ dư luận về việc sử dụng ngân sách. Để phát triển VHNT, các quốc gia đều ra sức khơi thông nguồn lực tài trợ bên ngoài ngân sách nhà nước.

Trước khi các mô hình tài trợ được thiết chế hóa bởi Nhà nước hay các tổ chức quốc tế, những hình thức hỗ trợ nghệ thuật vẫn tồn tại rải rác trong đời sống, mang tính cá nhân và tự phát. Một ví dụ tiêu biểu là câu chuyện về ông chủ quán Cà phê Lâm (60 Nguyễn Hữu Huân, phường Hoàn Kiếm, TP Hà Nội). Giai đoạn trước đổi mới năm 1986, nhiều họa sĩ từng uống cà phê chịu tại quán và để lại tác phẩm như một cách trao đổi. Ông Lâm, dù không thuộc giới nghệ thuật, lại có tầm nhìn văn hóa dài hạn, cẩn thận lưu giữ tranh và ghi chép thời gian cùng hoàn cảnh sở hữu. Giai thoại về bộ sưu tập Cà phê Lâm hình thành từ đó, quy tụ nhiều tên tuổi của mỹ thuật hiện đại Việt Nam.

Tập đoàn Vingroup tài trợ cho văn học-nghệ thuật thông qua phát triển Trung tâm Nghệ thuật đương đại Vincom (VCCA) tại phường Thanh Xuân, TP Hà Nội. Trong ảnh: Các em thiếu nhi tham dự sự kiện tương tác "Phía sau cánh cửa thần kỳ", tháng 6-2026. Ảnh do VCCA cung cấp

Các quỹ và trung tâm văn hóa nước ngoài là những đơn vị tham gia mạnh mẽ, mang đến các mô hình hỗ trợ có hệ thống vào đầu thế kỷ 21. Sự hiện diện và hoạt động của các quỹ quốc tế sau đó đã tạo cảm hứng, ảnh hưởng đến việc hình thành các quỹ, không gian hỗ trợ nghệ thuật từ phía các tập đoàn, tổ chức trong nước. Họa sĩ, giám tuyển Nguyễn Thế Sơn, giảng viên Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho biết bản thân ông và nhiều nghệ sĩ có tên tuổi trong giới hội họa và nghệ thuật thị giác hiện tại của Việt Nam từng nhận tài trợ từ các quỹ kể trên.

Các quỹ và tổ chức này không chỉ hỗ trợ tài chính mà còn mở rộng sang các chương trình giao lưu, lưu trú nghệ thuật và trao đổi quốc tế, giúp nghệ sĩ Việt Nam tiếp cận trực tiếp với các không gian sáng tạo bên ngoài lãnh thổ. Theo ông Nguyễn Thế Sơn, giá trị của những nguồn lực này không chỉ dừng ở hỗ trợ kinh phí mà còn tạo điều kiện cho các dự án thử nghiệm dài hơi, sử dụng đa chất liệu và tạo ra giá trị mang tính ý niệm hơn là sản phẩm hữu hình. Tài trợ nghệ thuật giúp nghệ sĩ giảm trạng thái đơn độc, chuyển từ áp lực tìm kiếm nguồn lực sang tập trung vào tư duy và khám phá tri thức mới.

Khoảng trống của cơ chế

Trên thế giới, nhiều tổ chức không chỉ đóng vai trò nhà hảo tâm mà còn xem đây như một chiến lược đầu tư dài hạn vào đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng, đồng thời xây dựng uy tín, giá trị thương hiệu một cách bền vững. Ở các mô hình này, điểm cốt lõi không nằm ở quy mô tài chính mà còn là hành lang thể chế cho phép dòng tài trợ vận hành minh bạch, ổn định và tương đối tách biệt với các áp lực thương mại. Chính sự ổn định đó tạo nên môi trường để nghệ thuật phát triển tính thử nghiệm, theo đuổi những giá trị dài hạn.

Ở Việt Nam, khái niệm và các hoạt động tài trợ VHNT vẫn chưa phát triển tương xứng, chủ yếu do thiếu một hành lang pháp lý rõ ràng và mang tính khuyến khích thực chất. Nguyên nhân cốt lõi nằm ở chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp và các quy định liên quan. Hiện nay, danh mục các khoản tài trợ được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp còn hẹp và thiếu linh hoạt. Theo quy định thuế hiện hành, doanh nghiệp chỉ được khấu trừ thuế đối với các khoản tài trợ cho bảo tàng, thư viện hoặc các quỹ bảo tồn di sản văn hóa. Trong khi đó, các khoản tài trợ cho VHNT, hỗ trợ trực tiếp nghệ sĩ thường không được công nhận là chi phí hợp lý để khấu trừ thuế thu nhập.

Điều này khiến hoạt động tài trợ VHNT khó tách khỏi logic chi phí thương mại. Để hợp thức hóa khoản chi và đáp ứng yêu cầu về chứng từ, nhiều doanh nghiệp buộc phải chuyển sang hình thức hợp đồng dịch vụ quảng cáo hoặc khuyến mại. Hệ quả là các không gian VHNT phải chấp nhận treo logo, đặt banner hoặc điều chỉnh nội dung theo yêu cầu thương mại, làm suy giảm tính độc lập và độ trong của hoạt động bảo trợ phi lợi nhuận, vốn là nền tảng của tài trợ nghệ thuật đương đại.

Ngay cả với các dự án VHNT phục vụ cộng đồng, nhiều năm qua cũng chưa có danh mục hỗ trợ riêng. Muốn tiếp cận nguồn ngân sách, các hoạt động này thường phải lồng ghép vào các chương trình chỉnh trang đô thị, không gian công cộng. Điều đó không chỉ làm giảm tính thuần túy của thực hành nghệ thuật mà còn khiến nhiều dự án phải vận hành theo cách thức “áo gấm đi đêm”, thiếu sự công nhận, bảo vệ pháp lý.

Chia sẻ từ góc độ vừa là nghệ sĩ thực hành, vừa đứng đầu một đơn vị nghệ thuật, họa sĩ, giám tuyển Nguyễn Thế Sơn cho hay, hằng năm ông vẫn phải nộp nhiều khoản thuế nhưng chưa nhận được cơ chế hỗ trợ hay miễn giảm tương ứng khi thực hiện hoạt động tài trợ nghệ thuật. Nếu có quy định cho phép điều hướng một phần nguồn thuế đó để tiếp tục phát triển các thể nghiệm nghệ thuật, ông có thể đóng góp nhiều hơn cho lĩnh vực nghệ thuật cộng đồng.

Kỳ vọng từ chính sách mới

Phần nào tháo gỡ những vướng mắc nêu trên, Nghị quyết số 28/2026/QH16 được xem là một bước tiến quan trọng khi lần đầu tiên đưa ra các cơ chế ưu đãi cụ thể đối với tổ chức, cá nhân đầu tư và tài trợ cho hoạt động văn hóa, nghệ thuật.

Theo đó, nghị quyết đã có chủ trương miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động đầu tư, tài trợ trong lĩnh vực văn hóa nói chung. Chính phủ sẽ có quy định chi tiết về sau. Bên cạnh đó, nghị quyết còn tạo điều kiện hỗ trợ tiếp cận đất đai, mặt bằng cho các cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa. Những quy định này không chỉ góp phần tháo gỡ các rào cản về chi phí và nguồn lực mà còn phát đi tín hiệu chính sách rõ ràng, tạo nền tảng để huy động mạnh mẽ hơn nguồn lực xã hội cho VHNT.

Tuy chính sách có những chuyển biến đáng kể, tài trợ nghệ thuật phi lợi nhuận vẫn đứng trước không ít thách thức trong thực tiễn. Bởi đây là lĩnh vực đòi hỏi đầu tư dài hạn, tạo ra những giá trị khó đo đếm ngay bằng hiệu quả kinh tế hoặc truyền thông, đồng thời không mang lại sự ghi nhận tức thời như các hoạt động từ thiện hay tài trợ thương mại. Vì thế, không ít doanh nghiệp vẫn duy trì tâm lý tài trợ phải gắn với lợi ích trực tiếp, khiến việc tài trợ cho các giá trị VHNT thuần túy chưa thực sự trở thành một lựa chọn phổ biến.

Để hoạt động tài trợ VHNT thực sự đi vào đời sống, bên cạnh các chính sách ưu đãi đã được ban hành, cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý thông qua các văn bản hướng dẫn cụ thể, làm rõ phạm vi hoạt động được hưởng ưu đãi cũng như các tiêu chí xác định. Song song với đó, cần nâng cao nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp và xã hội về giá trị lâu dài của tài trợ VHNT phi lợi nhuận, coi đây là sự đầu tư bền vững cho nền tảng văn hóa quốc gia.