Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn dưới góc độ phân chia thẩm quyền giữa hệ thống các cơ quan điều tra hoặc căn cứ vào chủ thể thực hiện hành vi phạm tội, địa điểm xảy ra vụ án, rất dễ bỏ qua bản chất pháp lý của vấn đề. Điều cần được trả lời trước hết không phải là cơ quan nào điều tra, mà là hoạt động điều tra đó nhằm bảo vệ khách thể nào. Chỉ khi xác định đúng khách thể cần được bảo vệ mới có thể xác lập cơ chế phân định thẩm quyền hợp lý, bảo đảm cả hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm và yêu cầu bảo vệ lợi ích quốc gia, quốc phòng, an ninh.
Điều tra trong Quân đội không chỉ là xử lý tội phạm
Hoạt động điều tra hình sự trong QĐND có bản chất khác với hoạt động điều tra trong môi trường dân sự. Hoạt động điều tra của các cơ quan điều tra nói chung tập trung vào việc phát hiện, xử lý tội phạm nhằm bảo vệ các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự ghi nhận như tính mạng, sức khỏe, tài sản, trật tự quản lý kinh tế, an toàn công cộng... Trong khi đó, đối với Cơ quan điều tra hình sự trong QĐND, hoạt động điều tra không chỉ nhằm xử lý tội phạm mà còn gắn với yêu cầu bảo vệ sức mạnh chiến đấu, khả năng sẵn sàng chiến đấu, kỷ luật Quân đội, bí mật nhà nước, bí mật quân sự và việc thực hiện chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất.
 |
| Quang cảnh một phiên tòa. Ảnh minh họa: baochinhphu.vn |
Ví dụ, tội giết người hoặc cố ý gây thương tích đối với quân nhân xảy ra ngoài doanh trại Quân đội: Khách thể trực tiếp bị xâm phạm là tính mạng, sức khỏe của con người. Tuy nhiên, nếu nạn nhân là phi công quân sự, kíp tàu ngầm, chỉ huy đơn vị đặc nhiệm, chuyên gia tác chiến điện tử hoặc cán bộ kỹ thuật chủ chốt thì thiệt hại thực tế không chỉ là tính mạng hoặc sức khỏe của một cá nhân. Hành vi phạm tội còn có thể làm mất khả năng thực hiện nhiệm vụ của cả tổ, đội, kíp chiến đấu; làm gián đoạn quá trình huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; ảnh hưởng đến khả năng thực hiện phương án tác chiến chiến lược đã được xây dựng trong thời gian dài. Trong trường hợp này, thiệt hại đối với sức mạnh chiến đấu của đơn vị vượt xa hậu quả được phản ánh trong cấu thành tội phạm. Hoặc giả sử, người có liên quan đến các vụ án là sĩ quan chỉ huy-tham mưu ở các cấp, sĩ quan các quân chủng, binh chủng thì có liên quan đến các phương án, quyết tâm bảo vệ Tổ quốc, cần được bảo vệ ở mức độ tuyệt mật.
Đó cũng là lý do tại sao hoạt động điều tra trong Quân đội không chỉ dừng lại ở việc xác định người phạm tội và chứng minh hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra còn phải đánh giá đầy đủ mức độ ảnh hưởng của hành vi đó đối với tổ chức lực lượng, nhiệm vụ quân sự, bí mật nhà nước, bí mật quân sự, kỷ luật Quân đội và sức mạnh chiến đấu của đơn vị. Đây là những yếu tố đòi hỏi kiến thức chuyên sâu về môi trường quân sự và không thể lượng hóa đầy đủ nếu tách khỏi cơ quan tư pháp trong Quân đội. Một điều tra viên am hiểu sâu sắc tổ chức Quân đội, chế độ chỉ huy, quy trình huấn luyện, quy định về bảo vệ bí mật quân sự và đặc điểm hoạt động của từng lực lượng sẽ có điều kiện đánh giá đầy đủ hơn mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội đối với nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Đây không đơn thuần là ưu thế về chuyên môn mà là yêu cầu khách quan của hoạt động tố tụng trong môi trường quân sự.
Từ những phân tích trên cho thấy, đối với các vụ án liên quan đến quân nhân, đơn vị Quân đội hoặc nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, khách thể cần được bảo vệ không chỉ là các quan hệ xã hội cụ thể được Bộ luật Hình sự quy định mà còn là sức mạnh chiến đấu, khả năng sẵn sàng chiến đấu, tính chính quy, kỷ luật và khả năng hoàn thành nhiệm vụ của QĐND Việt Nam. Đây là khách thể đặc thù mang tính quân sự, quốc phòng mà chỉ Cơ quan điều tra trong QĐND mới có điều kiện nhận diện, đánh giá đầy đủ mức độ tác động của hành vi phạm tội.
Thực tiễn gần 80 năm hình thành và phát triển của Cơ quan điều tra trong QĐND cùng với gần 40 năm thi hành Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự và Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 và các lần sửa đổi, bổ sung cho thấy, hệ thống Cơ quan điều tra trong QĐND đã được tổ chức hợp lý, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao; bảo đảm điều tra, xử lý kịp thời, đúng pháp luật các vụ án thuộc thẩm quyền; không để xảy ra oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm; góp phần giữ vững kỷ luật Quân đội, bảo vệ bí mật quân sự, bảo đảm sức mạnh chiến đấu và khả năng sẵn sàng chiến đấu của QĐND Việt Nam. Đó không chỉ là kết quả của một mô hình tổ chức phù hợp mà còn là minh chứng thực tiễn cho thấy cơ chế phân định thẩm quyền hiện hành đang phát huy hiệu quả. Vì vậy, việc duy trì thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong QĐND như hiện nay là cần thiết, phù hợp với đặc thù nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm trong Quân đội.
Điều cần thiết là hoàn thiện cơ chế phối hợp
Thực tiễn thi hành Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự cho thấy phần lớn những khó khăn phát sinh không xuất phát từ mô hình tổ chức hay việc phân định thẩm quyền hiện nay. Các vướng mắc, khó khăn trong hoạt động điều tra chủ yếu liên quan đến cơ chế phối hợp, trao đổi thông tin, tài liệu, chứng cứ trong các vụ án phức tạp, liên quan nhiều cơ quan, nhiều địa bàn hoặc nhiều đối tượng khác nhau; không phải do bản thân mô hình tổ chức hay việc phân định thẩm quyền điều tra hiện hành.
Điều đó cho thấy hướng sửa đổi cần tập trung nghiên cứu hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan điều tra, giữa cơ quan điều tra với viện kiểm sát, tòa án và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, kết nối cơ sở dữ liệu, chia sẻ thông tin nghiệp vụ. Việc hoàn thiện các cơ chế nêu trên sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra, bảo đảm tính thông suốt của quá trình tố tụng hình sự, đồng thời vẫn giữ được sự ổn định của hệ thống cơ quan điều tra hiện hành, phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật
Việc sửa đổi Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự hiện nay cần được đặt trong tổng thể quá trình hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự. Thông báo số 01-TB/BCĐTW ngày 6-7-2026 về kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Trưởng ban chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật tại Phiên họp thứ nhất của Ban chỉ đạo đã kết luận: Việc sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự cần được thực hiện đồng bộ với quá trình nghiên cứu, sửa đổi Bộ luật Hình sự và các luật liên quan, đặt trong tổng thể yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và khơi thông nguồn lực phát triển.
Phù hợp với định hướng đó, ngày 8-7-2026, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao đã ban hành Quyết định số 208/QĐ-VKSTC thông qua 6 chính sách xây dựng Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi). Trong đó, chính sách 3 xác định nhiệm vụ hoàn thiện chế định thẩm quyền tố tụng, tăng cường kiểm soát quyền lực và bảo đảm tốt hơn quyền con người; không đặt ra chủ trương thay đổi nguyên tắc phân định thẩm quyền điều tra giữa hệ thống các cơ quan điều tra mà tập trung hoàn thiện cơ chế tố tụng, tăng cường kiểm soát quyền lực và đổi mới phương thức tiến hành tố tụng. Trong bối cảnh Bộ luật Tố tụng hình sự đang được nghiên cứu sửa đổi toàn diện, việc điều chỉnh riêng lẻ nguyên tắc phân định thẩm quyền điều tra tại Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự tiềm ẩn nguy cơ thiếu thống nhất trong xây dựng pháp luật, ảnh hưởng đến tính ổn định của hệ thống pháp luật và chưa phù hợp với yêu cầu hoàn thiện thể chế theo hướng đồng bộ, thống nhất mà Đảng đã xác định. Vì vậy, việc sửa đổi Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự cần được đặt trong tổng thể quá trình sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật, tránh sửa đổi cục bộ một chế định nhưng tác động đến toàn bộ cơ chế tố tụng hình sự.
Đổi mới, hoàn thiện pháp luật là yêu cầu khách quan của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuy nhiên, nguyên tắc quan trọng của hoạt động lập pháp là kế thừa những quy định đã được thực tiễn kiểm nghiệm, chỉ điều chỉnh những vấn đề thật sự bất cập, tránh tạo ra những xáo trộn không cần thiết đối với các thiết chế đang vận hành hiệu quả. Từ cả cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn gần 80 năm xây dựng, phát triển của hệ thống điều tra trong Quân đội, khẳng định việc giữ nguyên thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong QĐND, đồng thời hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng là lựa chọn phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp, vừa bảo đảm kỷ luật Quân đội, bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật quân sự và đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.