Đề xuất này đồng nghĩa với việc nhiều vụ án liên quan đến quân nhân sẽ không còn do cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân trực tiếp điều tra mà được chuyển cho Cơ quan điều tra Công an nhân dân chủ trì giải quyết. Nhìn bề ngoài, đây là quy định nhằm tăng cường cơ chế phối hợp giữa hai hệ thống cơ quan điều tra.

Tuy nhiên, về bản chất pháp lý, đây không chỉ là sự điều chỉnh về thẩm quyền giữa các cơ quan điều tra mà còn làm thay đổi nguyên tắc phân định thẩm quyền điều tra đã được thực hiện ổn định trong nhiều năm qua, tác động trực tiếp đến công tác quản lý quân nhân và yêu cầu bảo đảm nhiệm vụ quân sự, quốc phòng.

Quang cảnh một phiên tòa. Ảnh minh họa: qdnd.vn 

Đây không đơn thuần là sự thay đổi về thẩm quyền điều tra mà là sự thay đổi về vị trí, vai trò của cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân, sự thay đổi này là không phù hợp, cụ thể:

Vai trò của cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân

Theo quy định hiện hành, cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân là cơ quan tiến hành tố tụng độc lập, được pháp luật giao trực tiếp điều tra các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án quân sự, trong đó có các vụ án mà người phạm tội hoặc bị hại là quân nhân (không phụ thuộc vào loại tội phạm hoặc địa điểm xảy ra tội phạm). Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân thực hiện đầy đủ quyền hạn, trách nhiệm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự, chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ quá trình điều tra.

Trong khi đó, theo quy định tại đoạn 2 khoản 2 Điều 15 và đoạn 2 khoản 2 Điều 17 của dự thảo luật, khi Cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh điều tra vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của mình mà có bị hại hoặc người phạm tội là đối tượng do Quân đội quản lý, nếu vụ án không thuộc bí mật quân sự, không xảy ra trong doanh trại Quân đội hoặc khu vực quân sự do Quân đội nhân dân quản lý, bảo vệ thì cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân chỉ thực hiện một số hoạt động điều tra theo yêu cầu của Cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh, không còn là cơ quan trực tiếp tiến hành điều tra vụ án.

Điều đó đồng nghĩa với việc cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân không còn trực tiếp xây dựng kế hoạch điều tra, thu thập, kiểm tra, đánh giá toàn diện chứng cứ, quyết định định hướng điều tra và chịu trách nhiệm về kết quả giải quyết vụ án. Vai trò của cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân từ cơ quan tiến hành điều tra độc lập, chịu trách nhiệm chính đối với toàn bộ quá trình điều tra được chuyển thành cơ quan phối hợp, hỗ trợ thực hiện một số hoạt động điều tra theo yêu cầu Cơ quan điều tra của Công an nhân dân.

Sự thay đổi này không chỉ làm thu hẹp thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân mà còn làm thay đổi vị trí pháp lý và vai trò tố tụng của cơ quan này trong giải quyết các vụ án liên quan đến quân nhân. Đồng thời, việc cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân không còn trực tiếp tiến hành điều tra ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý quân nhân, giữ nghiêm kỷ luật Quân đội, bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật quân sự và thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng.

Không phản ánh đầy đủ tính đặc thù của hoạt động quân sự, quốc phòng

Quân đội nhân dân Việt Nam thực hiện 3 chức năng: Đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất. Hoạt động quân sự, quốc phòng được triển khai trên nhiều địa bàn, môi trường khác nhau, không chỉ trong doanh trại hoặc khu vực quân sự mà còn tại khu vực biên giới, hải đảo, vùng biển, vùng trời và các địa bàn thực hiện nhiệm vụ quốc phòng khác. Mọi hoạt động của Quân đội đều gắn với yêu cầu bảo đảm bí mật quân sự, giữ nghiêm kỷ luật, duy trì sức mạnh chiến đấu và khả năng sẵn sàng chiến đấu.

Xuất phát từ đặc thù đó, pháp luật hiện hành quy định thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân không chỉ căn cứ vào địa điểm xảy ra tội phạm mà còn dựa trên chủ thể thực hiện hành vi phạm tội hoặc bị hại, tính chất của quan hệ quân sự và yêu cầu bảo vệ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng.

Thực tiễn cho thấy, nhiều vụ án liên quan đến quân nhân mặc dù xảy ra ngoài doanh trại hoặc khu vực quân sự nhưng việc điều tra vẫn phải làm rõ các vấn đề đặc thù như nhiệm vụ quân sự được giao, tổ chức biên chế, quan hệ chỉ huy, chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, điều lệnh, điều lệ, công tác quản lý quân nhân, quản lý vũ khí, trang bị kỹ thuật và các quy định chuyên ngành của Quân đội. Đây là những nội dung đòi hỏi cơ quan điều tra không chỉ nắm vững pháp luật tố tụng hình sự mà còn phải có kiến thức chuyên sâu về tổ chức, hoạt động và cơ chế quản lý trong Quân đội nhân dân.

Trong khi đó, dự thảo luật lại chủ yếu dựa vào tiêu chí địa điểm xảy ra vụ án và việc vụ án có thuộc bí mật quân sự hay không để phân định thẩm quyền điều tra. Cách tiếp cận này chưa phản ánh đầy đủ tính đặc thù của hoạt động quân sự, quốc phòng; chưa đánh giá đúng yêu cầu quản lý quân nhân và đặc điểm của các quan hệ quân sự, từ đó dẫn đến việc thu hẹp thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân đối với nhiều vụ án mà bản chất vẫn gắn chặt với nhiệm vụ quân sự, quốc phòng.

Cơ chế ủy thác điều tra không thể thay thế thẩm quyền điều tra

Theo dự thảo, mặc dù Cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh là cơ quan có thẩm quyền điều tra vụ án, nhưng khi cần xác minh các tình tiết liên quan đến nhân thân quân nhân, thực hiện bắt, giữ người trong trường hợp khẩn cấp, khám xét, thu giữ vật chứng, tài liệu trong doanh trại hoặc khu vực quân sự do Quân đội quản lý, bảo vệ thì vẫn phải thực hiện thủ tục ủy thác cho cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân.

Cơ chế “ủy thác điều tra” không thể thay thế thẩm quyền điều tra, bản chất của ủy thác điều tra là cơ chế hỗ trợ hoạt động tố tụng giữa các cơ quan điều tra khi có yêu cầu thực hiện một số hoạt động điều tra cụ thể. Ủy thác điều tra không làm phát sinh thẩm quyền điều tra độc lập; không trao quyền đánh giá toàn diện chứng cứ; cũng không trao quyền chủ động xác định nguyên nhân, điều kiện phạm tội và kiến nghị phòng ngừa.

Nếu cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân chỉ được điều tra theo yêu cầu của Cơ quan điều tra của Công an nhân dân thì hoạt động điều tra sẽ bị giới hạn trong phạm vi nội dung được ủy thác. Những vấn đề liên quan đến công tác quản lý quân nhân, quản lý đơn vị, quản lý vũ khí, trang bị, chế độ trực ban, trực chiến, huấn luyện hoặc các yếu tố đặc thù của hoạt động quân sự sẽ không còn được xem xét một cách đầy đủ và chủ động. Điều này làm giảm vai trò của cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân trong việc phát hiện những sơ hở trong công tác quản lý quân sự và kiến nghị biện pháp phòng ngừa.

Mặt khác, quy định này dẫn đến tình trạng một vụ án do hai cơ quan điều tra cùng tham gia điều tra theo hai cơ chế khác nhau: Cơ quan điều tra Công an chịu trách nhiệm điều tra toàn bộ vụ án, còn cơ quan điều tra trong Quân đội điều tra theo ủy thác đối với một nhóm tình tiết nhất định. Việc giao hai cơ quan điều tra cùng tham gia làm rõ các tình tiết của một vụ án còn làm phát sinh khó khăn trong việc xác định trách nhiệm tố tụng đối với kết quả điều tra, giá trị chứng cứ, cũng như trách nhiệm khi xảy ra thiếu sót, vi phạm hoặc phải điều tra bổ sung. Quy định này không những không khắc phục được tình trạng “chia cắt” trong hoạt động điều tra mà còn làm phân tách quá trình thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ giữa hai cơ quan điều tra.

Tác động đến tính chuyên môn hóa của hệ thống cơ quan điều tra

Việc tổ chức các hệ thống cơ quan điều tra hiện nay được xây dựng trên nguyên tắc chuyên môn hóa, theo đó mỗi hệ thống cơ quan điều tra được giao thực hiện nhiệm vụ điều tra đối với những nhóm tội phạm phù hợp với chức năng quản lý nhà nước và đặc thù của từng lĩnh vực. Đối với cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân, thẩm quyền điều tra không chỉ nhằm mục đích phát hiện, xử lý tội phạm mà còn gắn chặt với yêu cầu quản lý quân nhân, giữ nghiêm kỷ luật Quân đội, bảo vệ bí mật quân sự, bảo vệ sức mạnh chiến đấu và bảo đảm hiệu lực quản lý nhà nước về quốc phòng. Đây cũng là cơ sở để pháp luật hiện hành quy định thẩm quyền điều tra phù hợp với tính đặc thù của hoạt động quân sự, quốc phòng.

Cần đánh giá đầy đủ tác động của việc chuyển thẩm quyền điều tra nhiều vụ án liên quan đến quân nhân

Việc chuyển thẩm quyền điều tra nhiều vụ án liên quan đến quân nhân từ cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân sang Cơ quan điều tra Công an nhân dân không chỉ là sự điều chỉnh về kỹ thuật lập pháp hay phân công thẩm quyền giữa các cơ quan điều tra, mà còn làm thay đổi nguyên tắc phân định thẩm quyền điều tra đã được pháp luật quy định và thực hiện ổn định trong nhiều năm qua. Đây là vấn đề có tác động trực tiếp yêu cầu quản lý quân nhân, giữ nghiêm kỷ luật Quân đội, bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật quân sự và thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và tổ chức, hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Trong hồ sơ dự án Luật, cơ quan chủ trì soạn thảo cho rằng việc sửa đổi nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong phân định thẩm quyền điều tra và hạn chế việc phải tách, chuyển vụ án giữa các cơ quan điều tra. Tuy nhiên, đến nay chưa có cơ sở thực tiễn đầy đủ để chứng minh những bất cập của quy định hiện hành ở mức độ cần phải thay đổi nguyên tắc xác định thẩm quyền điều tra đã được thực tiễn kiểm nghiệm, chưa lượng hóa đầy đủ số lượng vụ án bị ảnh hưởng, chưa đánh giá tác động của việc chuyển thẩm quyền điều tra đối với hoạt động của các cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân cũng như chưa làm rõ những tác động đối với hoạt động truy tố, xét xử và việc thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về quốc phòng.

Cùng với đó, có thể thấy rằng, đề xuất thay đổi nguyên tắc xác định thẩm quyền điều tra trong dự án luật sẽ tác động bất lợi tới yêu cầu quản lý quân nhân, giữ nghiêm kỷ luật Quân đội, bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật quân sự và thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng.

Trong tình hình hiện nay, rất cần bảo đảm tính kế thừa, ổn định của pháp luật, giữ vững hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp trong Quân đội và đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.