Trước đây, từ nhiều góc nhìn khác nhau, đã có nhiều nghiên cứu đề cập, nhưng tập hợp một cách khá đầy đủ, dựng lại diện mạo một bộ phận văn học quan trọng trong nền văn học chống Mỹ thì đây là công trình đầu tiên. Các tác giả từng là những chiến sĩ trực tiếp cầm súng trên chiến trường, cũng là những nhà văn cầm bút giữa hai trận đánh. Không chỉ là sự tổng kết mang ý nghĩa khoa học cao, đây còn là tâm huyết, tượng hình trong con chữ cả mồ hôi, máu, nước mắt của họ và đồng đội...

Phần thứ nhất có tên “Văn nghệ giải phóng-Một tiến trình độc đáo”, khẳng định có một nền văn nghệ giải phóng mang tính hệ thống chỉnh thể với sự vận động, phát triển liên tục theo dòng chảy qua các thời kỳ lịch sử. Sau năm 1955, đất nước vẫn chưa thống nhất, ở hai miền có hai thể chế chính trị khác nhau. Đúng với quy luật văn học là tiếng nói của lịch sử, là hơi thở của thời đại, ở miền Bắc là văn học xã hội chủ nghĩa; ở miền Nam, đúng với tính chất chính trị phức tạp, văn học chia làm nhiều khuynh hướng.

Bìa cuốn sách.        

Văn học giải phóng miền Nam ra đời như một tất yếu lịch sử, với một đội ngũ tác giả hùng hậu, từ miền Bắc “vô” và ở chính miền Nam, nhưng sớm được tiếp thu ánh sáng cách mạng: Nguyễn Thi, Trần Bạch Đằng, Trần Trọng Tân, Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Quang Hà, Vũ Hạnh, Trang Thế Hy, Chu Cẩm Phong, Dương Thị Xuân Quý... Trên chiến trường chống Mỹ, văn nghệ sĩ trước hết là người lính cầm súng. Những trang viết ra đời dưới làn pháo giặc thấm đẫm tình yêu đất nước, niềm tự hào dân tộc, kết thành tính dân tộc, tính nhân dân thật sự đáng để cho thế hệ hôm nay học tập, kế thừa và phát huy... Theo yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng, bộ phận văn học ấy đổi mới ở thi pháp, ở quan niệm, cấu trúc, nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu. Hầu như không có tác phẩm nhạt. Có thể là giản dị nhưng không hề đơn giản. Vì đó là tiếng nói của tình yêu, lòng căm thù, của nước mắt và máu, của sự hy sinh...

Kế thừa xuất sắc tinh thần yêu nước, xả thân, chí hy sinh của văn học kháng chiến chống Pháp (1946-1955), của văn học yêu nước và cách mạng Nam Bộ (cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20), văn học giải phóng miền Nam đã tiếp nối tinh hoa quá khứ dân tộc để khẳng định tinh thần và ý chí thời đại: Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh!

Công trình nổi bật về tính hệ thống, ở bố cục, ở trình bày một vấn đề lịch sử bao quát, công phu. Chọn phương án tóm lược, chú giải và giới thiệu “mỗi tác giả một hai tác phẩm nổi bật hơn cả”, đặt trong bối cảnh giai đoạn này, quân ta và quân địch luôn trong thế “cài răng lược”, công trình chú ý tính toàn diện, ở sự có mặt của văn học đô thị, văn học nông thôn, miệt vườn, văn học miền núi... là thỏa đáng, hợp lý. Có nhiều tiếng nói, công khai có, bí mật có, du kích có, chính quy có, sinh viên có, phụ nữ có... Từ công trình đã gián tiếp hiện lên bức tranh: Toàn dân chiến đấu, toàn diện chiến đấu. Tất cả đều hết mình, nhận mọi nhiệm vụ, sẵn sàng hy sinh để giải phóng miền Nam. Về nội dung, ngoài hình ảnh về cuộc kháng chiến vô cùng gian khổ, thiếu thốn, ác liệt, còn là những chi tiết, những sự kiện nói một cách sâu sắc, thấm thía tình người, tình đồng chí...

Cuốn sách quý là sự tôn vinh một di sản văn hóa đặc biệt của dân tộc, thể hiện ở các phương diện ý nghĩa: Khẳng định đóng góp lớn lao của bộ phận văn học cách mạng trong công cuộc giành độc lập, tự do; tính chất giáo dục sâu sắc cho các thế hệ mai sau; chức năng thẩm mỹ của một hệ thi pháp; ý nghĩa tư liệu-một mạch nguồn cho văn nghệ mai sau.