6 giờ sáng, tôi đã ở cơ quan.
Tôi linh cảm điều bất thường khi hành chính đưa lên hai người phụ nữ với quầng mắt thẫm nước và như không tin ở tai mình khi người trẻ tuổi hơn, cũng là con gái, vừa nâng đỡ vai người mẹ, vừa nghẹn lời thông báo, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu - người cha kính yêu của chị vừa mới đột ngột qua đời.
Tôi sững người mất nửa phút, chút nữa buông rơi chiếc ấm trên tay. Tròng kính mắt bỗng chốc nhòe đi, như có vạt cát bỏng ở đâu hắt thẳng vào trong mắt. Tôi hỏi như vô thức: “Chú Mậu mất rồi ư?”.
 |
Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
|
Căn phòng lặng im không một tiếng trả lời.
Hai người phụ nữ phía trước dường như không tin điều mình vừa thông báo là sự thật. Sao lại có thể nhanh như thế được? Vừa sáng hôm kia tôi còn gặp chú? Nhà thơ đã bắt tay rồi đi được hơn 10m, bỗng quay trở lại chúc mừng tôi vừa nhận giải Cuộc thi thơ "Xuân mới" của Chi hội Nhà văn Công an.
Phải mấy phút sau, tôi mới hoàn toàn tin đó là sự thật.
Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu như là cha, chú của tôi, hiền như đất, hiền như đôi mắt. Mà mở ra thanh thoát xa khơi.
Nguyễn Đức Mậu làm thơ thời tôi còn chưa sinh ra, vào chiến trường từ khi tôi còn là hạt bụi, vậy đó mà sao sau này tôi luôn thấy ông thật gần.
Bao giờ cũng gọi nhà thơ bằng chú. Chú cháu với nhau từ trại viết Đồ Sơn năm 1996 một mạch đến bây giờ.
Thơ Nguyễn Đức Mậu rất hay:
“Hà Nội chiều nay nắng vừa đủ nắng
Gió cũng vừa đủ gió để rung cây
Mặt hồ rộng thực hư làn khói mỏng
Rượu bạn mời tôi uống cũng vừa say”.
Những câu thơ vừa loang xa vừa chừng mực. Đó là thơ hay.
“Nơi tôi ở hoa đại rơi trắng đất
Có ai nhìn hoa nghĩ tóc bạc trên đầu
Cái hòm thư mới một lần sơn lại
Bác gác cổng già năm trước giờ đâu”.
Ôi chao! Thơ đâu cần cao xa triết lý hoặc như câu chữ bí hiểm vòng vèo. Cứ một mạch tả chân mà hay mới là khó. Như "Dòng tên anh khắc vào đá núi" chẳng hạn. Như "Tóc em dài buông xõa xuống mùa thu" chẳng hạn. Thì hay là hay thôi.
Nguyễn Đức Mậu sinh năm 1948 tại xã Nam Điền, huyện Nam Ninh, tỉnh Nam Định (nay là tỉnh Ninh Bình). Ông nhập ngũ năm 1966, vào chiến trường, rồi về Văn nghệ Quân đội một mạch đến lúc nghỉ hưu. Những bài thơ từ chiến trường gửi ra luôn thấm đẫm mùi đạn bom và đôi khi là máu xương đồng đội. Những bài thơ ấy khi được in trên Văn nghệ Quân đội là sung sướng tột cùng của người chiến sĩ.
Khi lần đầu tiên tới Văn nghệ Quân đội, Nguyễn Đức Mậu đã phải rụt rè mấy lần trước cổng nhà số 4 mới dám nhấn chuông. Vô cùng đặc biệt, người đàn ông cao lớn từ trong phòng khách đi ra mở cổng đón nhà thơ trẻ Nguyễn Đức Mậu chính là Tổng biên tập Thanh Tịnh. Thanh Tịnh - một nhà thơ tiền chiến nổi tiếng với những câu thơ giống như ca dao đúng với thân phận cuộc đời Thanh Tịnh: "Trải qua mấy chục năm trường/ Ăn cơm tập thể nằm giường cá nhân".
Nguyễn Đức Mậu đã sớm được tiếp xúc với những nhân vật lẫy lừng từ lâu hâm mộ. Đó là Vũ Cao, Từ Bích Hoàng, Xuân Sách, Nhị Ca, Văn Thảo Nguyên, Nguyễn Minh Châu... Đến nỗi, anh lính Sư đoàn bộ binh Nguyễn Đức Mậu tưởng như còn đang nằm chiêm bao vậy.
Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu tính khí trầm hậu, ưu tư nhưng hóm hỉnh. Cái gì cũng biết, mà không nói. Có nói thì nói vào thơ. Không to giọng. Càng không ồn ào. Cứ thủng thẳng thế thôi mà tận cùng bờ bãi. Ông rất sợ thơ dở. Cuộc đời ông đã phải đối diện với biết bao bài thơ kém chất lượng gửi đến. Phải đọc nó. Phải loại bỏ nó. Thiên hạ ai ai cũng làm thơ để khổ thân người biên tập như ông. Ông đọc. Ông đãi khối đất cát, đá sỉ ấy để lựa ra những hạt vàng.
Hơn nửa thế kỷ là như vậy. Cứ nhìn ông như chiếc lá xô nghiêng chiều phố Lý Nam Đế thấy thật thương ông. Miếng ngon miếng ngọt chẳng biết gì, chỉ chút bài thơ của mấy vị to mồm yếu thơ mà ông loại bỏ họ lại rú lên, vây bủa la hét, để chiếc lá nghiêng Nguyễn Đức Mậu càng lạnh đi trong chiều đông gió thổi.
 |
| Các nhà văn, nhà báo Quân đội tại Điện Biên. (Ảnh chụp tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội, năm 2004). |
Cơ mà kiếp nhà thơ là vậy. Kiếp biên tập thơ là như thế. Chúng tôi làm nghề biên tập luôn buốt đến tận xương, đôi khi lạnh cả sống lưng trước những “đại ca” viết ẩu dường như ngày càng đông.
Nguyễn Đức Mậu là người chừng mực. Ông còn luôn rất thẳng và nóng tính, nhưng chân thành, chí thiết và nghĩa khí. Đừng bao giờ nghĩ là dễ bắt nạt các nhà thơ trong cuộc sống hoặc trên văn bản văn chương. Các nhà thơ cứ "lơ tơ mơ" vậy mà lập pháp, lập quốc như chơi. Có người còn nổi dậy khởi nghĩa như Cao Bá Quát.
Nguyễn Đức Mậu là nhà thơ “cứng cựa” còn lại của lớp chống Mỹ, cứu nước. Bỏ ông ra, đội ngũ có kẽ hở ngay. Địch lọt vào? Không đâu! Nhưng vắng ông và Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Thi Hoàng... là gay lắm. Ông là cây cột lớn trong ngôi đền thơ phú trăm năm.
Nguyễn Đức Mậu lá nghiêng bay cũng buồn chứ nhỉ? Dòng tên anh khắc vào đá núi cũng xao buồn là lẽ sống trong kiếp nhân sinh. Lứa thơ chống Mỹ kiên gan là vậy mà cũng rất biết giá của buồn đau.
Nguyễn Đức Mậu như cây cầu độc mộc còn sót lại sau nắng mưa giông gió, đúng như ông từng viết: “Nơi tôi ở vắng Thâm Tâm, Trần Đăng, Thôi Hữu, Nguyễn Thi. Lớp nhà thơ, nhà văn một thời đi kháng chiến. Trang bản thảo nằm trong ba lô, những nhân vật câu thơ là mẫu quặng. Căn hầm thay phòng viết, ngọn đèn thắp bằng nhựa cây cháy sáng mặt trời. (Những nhà thơ, nhà văn ăn khẩu phần lính trận, ngủ gối đầu rễ cây, bao gạo. Đường kháng chiến hiểm nghèo đèo dốc. Đường văn chương bạc tóc đêm dài. Cây bút và khẩu súng. Các anh quên mình đã có một thời trai).
Những trận sốt rừng, những viên đạn giặc đã tràn vào trang viết dở dang. Nhà văn hy sinh, nhường khát vọng đời mình cho nhân vật. Máu thấm đất, máu chảy vào trang viết, máu thay cho đoạn kết không lời. Nhà thơ hy sinh như ngọn lửa cháy hết mình để tự hóa thân. Trên vuông đất bia khô cằn đá sỏi, những câu chữ như hạt cây sót lại, ngôn ngữ cỏ xanh tự chắp nên vần.
Cây đại già làm một chứng nhân, ngôi nhà các anh giờ chúng tôi đến ở. Căn phòng cũ mấy lần thay ổ khóa. Lớp nhà thơ mang áo lính nhiều thêm.
Trái tim các anh, khoảng đất nào xa lắc. Trái tim đập phập phồng trên trang sách chẳng bình yên”.
Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu thấm thoắt đã bước vào U80, mà xem ra vẫn còn nặng nợ với thơ ca chữ nghĩa lắm. Lứa các ông dường như đều đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Những gì cần viết ra, nói ra, thảy đều trân trọng được bày lên mặt giấy. Chỉ riêng với bài thơ "Màu hoa đỏ" thôi, đã xứng đáng một cống hiến, một tài năng không thể lẫn vào đâu với nhân dân và Tổ quốc. Tổ quốc và nhân dân cần lao đã hy sinh vô bờ bến, rất cần những câu thơ như trong "Màu hoa đỏ". Vẻ đẹp của người lính trong "Màu hoa đỏ" đã như những hình ảnh đạt tầm biểu tượng của sự hy sinh:
"Dòng tên anh khắc vào đá núi
Mây ngàn hóa bóng cây che
Chiều biên cương trắng trời sương núi
Mẹ già mỏi mắt nhìn theo
Việt Nam ơi! Việt Nam!
Núi cao như tình mẹ, bốn mùa tóc bạc nỗi thương con
Việt Nam ơi! Việt Nam!
Ngọn núi nơi anh ngã xuống
Rực cháy lên màu hoa đỏ phía rừng xa
Rực cháy lên màu hoa đỏ trước hoàng hôn"
Thế hệ các nhà văn chống Mỹ, những bậc đa đề trong ngôi nhà số 4 cứ thế vợi dần, càng khiến lứa chúng tôi như có điều gì như lực bất tòng tâm. Mới vừa năm trước (2025), chúng tôi đã phải liên tiếp vĩnh biệt nhà văn Khuất Quang Thụy và nhà phê bình văn học Ngô Vĩnh Bình. Cả hai ông, tôi đều nhiều lần lấn lá bên giường bệnh. Có một lần, khi chỉ có hai người, nhà văn Khuất Quang Thụy còn bàn với tôi tái bản cuốn tiểu thuyết "Tình báo không phải là nghề của tôi". Chỉ vài tháng trước khi ông mất, tôi cùng ông và Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh còn thực hiện một chương trình nói chuyện ghi hình tại Thư viện Quốc gia. Ông còn dặn: “Chú đang viết dở cuốn tiểu thuyết về tình báo. Bây giờ nghỉ hoàn toàn quản lý, tha hồ viết Khai ạ. Bản thảo chỉ vài tuần nữa là xong...”.
Rồi ông đột ngột ra đi, chỉ kịp căn dặn gia đình đưa về quê chôn cất.
Tiếp đó là nguyên Tổng biên tập Ngô Vĩnh Bình.
Và hôm nay là nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Đối với cá nhân tôi, dường như luôn có một đường dây dẫn sâu xa với thế hệ các nhà văn chống Mỹ, cứu nước. Từ những ngày lẫm chẫm ở Truyền hình Quân đội đã được phân công làm phim chân dung về các ông, về ngôi nhà số 4. Rồi tôi chuyển công tác về nơi mình ưa thích một mạch đã tròn 20 năm. 20 năm ấy, trong vô vàn ấn tượng, dấu mốc, bước ngoặt, thì đã có rất nhiều cuộc ra đi vĩnh viễn của các nhà văn trong ngôi nhà đang dần trở thành huyền thoại.
Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu - Màu hoa đỏ, từ lúc này đây, đã như vầng mây trắng bay đi. Người ở lại thêm trĩu nặng đôi vai, trĩu nặng những điều gan ruột thế hệ cha anh trao truyền cho người ở lại.