Nguyên nhân khiến phim Việt khó hoàn vốn
Phòng vé Việt Nam đang tăng trưởng nhưng phân hóa ngày càng rõ. Theo số liệu của Box Office Vietnam, tổng doanh thu phòng vé năm 2025 đạt khoảng 4.700 tỷ đồng. Trong 9 tháng năm 2026, đã có 6 phim Việt vượt mốc 200 tỷ đồng. Phim “Nghỉ hè sợ nghỉ hưu” của đạo diễn Huỳnh Lập đạt doanh thu 207 tỷ đồng, trở thành phim thành công khi ra mắt vào dịp nghỉ lễ 2-9.
Tuy nhiên trong cùng thị trường vẫn tồn tại những bộ phim đối mặt với tình trạng thua lỗ. Hai thái cực trên cho thấy khán giả vẫn sẵn sàng mua vé cho phim Việt, nhưng lựa chọn ngày càng kỹ và hiệu ứng truyền miệng có thể nhanh chóng quyết định sức sống của tác phẩm. Trường hợp “Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ vua Đinh” (kịch bản và đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình) mới đây cho thấy khoảng cách giữa quy mô sản xuất và khả năng chinh phục người xem. Phim được ấp ủ gần 10 năm, quay trong 83 ngày, hậu kỳ khoảng 7 tháng; kinh phí không được công bố chính thức nhưng một số nguồn ước tính có thể lên tới 100 tỷ đồng. Bối cảnh, phục trang, mỹ thuật và các màn giao đấu được nhiều khán giả đánh giá tích cực. Dù vậy kịch bản, lời thoại và chiều sâu hình tượng nhân vật gây ra tranh luận trái chiều. Sau những suất chiếu sớm, ê kíp đưa ra bản dựng 135 phút, rút khoảng 20 phút. Tổng doanh thu bộ phim chỉ đạt hơn 38 tỷ đồng, chưa tương xứng với kỳ vọng dành cho một dự án từng được truyền thông gọi là “bom tấn”.
Trước đó, cuối năm 2025, “Thế hệ kỳ tích” của đạo diễn Hoàng Nam cũng rời rạp sau gần hai tuần với doanh thu khoảng 853 triệu đồng, trong khi ê kíp cho biết đã đầu tư hơn 26 tỷ đồng. Dù lựa chọn đề tài khởi nghiệp của người trẻ, câu chuyện trong phim vẫn bị nhiều khán giả nhận xét là lý tưởng hóa, có những chi tiết thiếu logic và cách xử lý cảm xúc chưa trọn vẹn.
Tuy khác nhau về đề tài và quy mô, hai trường hợp đều cho thấy nguồn lực đáng kể đã được dành cho khâu sản xuất, trong khi câu chuyện làm nền cho bộ phim chưa được phát triển tới độ chín cần thiết.
 |
| Đoàn làm phim "Hộ linh tráng sĩ: Bí mật mộ vua Đinh" ra mắt tại TP Hồ Chí Minh, tháng 8-2026. Ảnh do đoàn làm phim cung cấp |
Điểm yếu trước ngày khai máy
Nhìn từ thực tiễn điện ảnh Việt Nam, đạo diễn Đào Thanh Hưng ví kịch bản như “DNA” của bộ phim, bởi đây là nơi định hình diện mạo và có thể quyết định sức sống của tác phẩm. Theo ông, cần phân biệt một kịch bản đủ tiêu chuẩn sản xuất với một kịch bản hay. Muốn đạt tới cái hay, bản thảo trước hết phải hội đủ những điều kiện căn bản, gồm ý tưởng trung tâm sắc bén, nhân vật có khát vọng rõ ràng và phải đối diện với rủi ro, đối thủ hoặc trở lực đủ mạnh, cấu trúc có chiều sâu, các chi tiết hợp lý và khả năng hiện thực hóa trong điều kiện sản xuất.
Những yêu cầu ấy không thể được đáp ứng chỉ bằng một ý tưởng ban đầu. Có ý tưởng chưa đồng nghĩa với đã có kịch bản, cũng như hoàn thành bản thảo đầu tiên chưa có nghĩa dự án đã sẵn sàng bấm máy. Giữa hai điểm đó là quá trình nghiên cứu, phản biện và viết lại, có khi kéo dài qua hàng chục phiên bản. Việc đi thực tế, kiểm chứng tư liệu, thử nghiệm cấu trúc và điều chỉnh từng tuyến nhân vật khó đem lại hiệu quả có thể nhìn thấy ngay, nhưng đây lại là giai đoạn những sai sót còn có thể được phát hiện và xử lý với chi phí thấp nhất.
Nghiên cứu vì thế là công đoạn được đạo diễn Đào Thanh Hưng đặc biệt coi trọng. Nếu chỉ ngồi trong phòng và dựa vào trí tưởng tượng, người viết dễ lặp lại những bộ phim từng xem, tạo ra bối cảnh hời hợt hoặc để nhân vật hành xử thiếu logic. Khán giả có thể chấp nhận sự hư cấu, nhưng trước hết họ phải tin vào thế giới mà bộ phim tạo dựng. Chỉ một thuật ngữ dùng sai, một quy trình vô lý hay cách ứng xử không phù hợp với môi trường sống cũng có thể làm niềm tin ấy rạn vỡ. Đạo diễn Đào Thanh Hưng nhận định: “Mâu thuẫn hay nhất không phải do biên kịch cố tình gài bẫy nhân vật, mà nảy sinh từ quy luật vận hành của môi trường nhân vật đang sống”. Khi hiểu sâu đời sống, người viết mới có thể tìm thấy những xung đột tự nhiên và xây dựng nhân vật có sức thuyết phục, thay vì biến họ thành phương tiện minh họa cho ý tưởng.
Sau nghiên cứu, phản biện là lớp bảo vệ cần thiết để kịch bản không bị đóng kín trong góc nhìn của một người. Việc đạo diễn đồng thời viết kịch bản có thể tạo nên sự thống nhất từ trang giấy tới màn ảnh, nhưng cũng khiến người sáng tạo khó giữ được khoảng cách với chính tác phẩm của mình. Cái tôi cùng sự gắn bó quá lâu với bản thảo có thể khiến những đoạn thừa, tuyến truyện yếu hoặc chi tiết không còn cần thiết trở nên khó cắt bỏ. Bởi vậy, ông Đào Thanh Hưng cho rằng các dự án lớn cần có nhóm phản biện đủ năng lực, cố vấn độc lập hoặc “bác sĩ kịch bản”, tức những người có chuyên môn thẩm định, phát hiện điểm yếu và hỗ trợ chỉnh sửa bản thảo trước khi phim bước vào sản xuất.
Hoàn thiện quy trình chuyên nghiệp
Nếu những phân tích của đạo diễn Đào Thanh Hưng tập trung vào lao động nghề nghiệp của người viết, PGS, TS Trần Trọng Dương, Giám đốc Trung tâm Công nghiệp văn hóa, Trường Ngoại ngữ-Du lịch, Đại học Công nghiệp Hà Nội, đặt vấn đề ở cách tổ chức toàn bộ dự án. Theo ông, hạn chế của kịch bản không chỉ bắt nguồn từ năng lực biên kịch mà còn liên quan đến phương pháp xây dựng câu chuyện, cách huy động tri thức chuyên môn và sự phối hợp giữa các thành phần sáng tạo. Bởi vậy, sẽ khó tạo ra thay đổi nếu chỉ yêu cầu người viết nâng cao năng lực trong khi mô hình phát triển dự án vẫn giữ nguyên.
Cũng theo PGS, TS Trần Trọng Dương, phim lịch sử là trường hợp cho thấy rõ yêu cầu phối hợp nhiều lĩnh vực. Một kịch bản thuộc dòng phim này phải đồng thời có căn cứ lịch sử, đạt chất lượng nghệ thuật, tạo được kịch tính và tìm ra cách thể hiện phù hợp. Nếu chỉ thuật lại những sự kiện công chúng đã biết, bộ phim dễ trở thành sự minh họa tuần tự, thiếu bất ngờ. Ngược lại, hư cấu tùy tiện sẽ làm suy giảm niềm tin của người xem.
Mối quan hệ giữa hiểu biết chuyên môn và sáng tạo nghệ thuật không chỉ đặt ra với phim lịch sử mà còn hiện diện trong những tác phẩm về LLVT, y tế, pháp luật, thương trường hoặc bất kỳ môi trường nghề nghiệp nào. Muốn kể một câu chuyện thuyết phục, trước hết người làm phim phải hiểu đúng thế giới mà nhân vật đang sống.
Từ đặc trưng điện ảnh là một loại hình nghệ thuật tổng hợp, PGS, TS Trần Trọng Dương đề xuất quy trình phát triển kịch bản gồm năm bước có sự tiếp nối chặt chẽ. Ngay từ khi hình thành dự án, hội đồng chuyên môn cần cùng trao đổi để xác định chủ đề, tư tưởng, thể loại, thời điểm, sự kiện và hệ thống nhân vật. Trên cơ sở đó, tư liệu được nghiên cứu, tập hợp và hệ thống hóa trước khi câu chuyện, tuyến nhân vật, các mối quan hệ cùng chuỗi thắt nút, mở nút được xây dựng. Bản thảo tiếp tục được thẩm định, chỉnh sửa và theo sát trong quá trình quay, dựng. Trước khi công chiếu, tác phẩm được xem xét bởi những hội đồng có chức năng phù hợp.
Điểm đáng chú ý trong đề xuất này không nằm ở việc gia tăng số tầng xét duyệt, mà ở sự tham gia đúng thời điểm của từng lĩnh vực chuyên môn. Chuyên gia cần đồng hành từ khi định hình ý tưởng, thay vì chờ một cá nhân hoàn thành kịch bản rồi mới đến kiểm tra hoặc góp ý. Đạo diễn giữ vai trò điều phối, kết nối các nhóm chuyên môn để những cách tiếp cận khác nhau cùng hướng tới một tác phẩm thống nhất. Mỗi hội đồng và mỗi thành viên cũng phải được phân định rõ chức năng, trách nhiệm, tránh để phản biện trở thành thủ tục hoặc làm nhạt cá tính sáng tạo.
Không ngẫu nhiên khi một số bộ phim có thành tựu nghệ thuật được chuyển thể từ tác phẩm văn học. Nền tảng có sẵn về tư tưởng, nhân vật và thẩm mỹ giúp người làm phim có thể “đứng trên vai người khổng lồ”. Trong khi đó, với kịch bản nguyên bản, toàn bộ thế giới nghệ thuật phải được kiến tạo từ đầu, nên yêu cầu về nền tảng tri thức, sự phối hợp liên ngành và quá trình hoàn thiện dự án càng cao hơn.
Nhìn từ quy trình ấy, chuyên nghiệp hóa khâu kịch bản trước hết là thay đổi cách nhìn về bản thảo. Kịch bản không nên được coi là một văn bản hoàn thành để bàn giao, mà là phần cốt lõi cần tiếp tục được phát triển trong suốt quá trình làm phim. Kinh phí dành cho công đoạn này phải trở thành một cấu phần riêng của dự án, gắn với tiến độ, trách nhiệm và kết quả cụ thể. Thù lao của biên kịch cũng cần tương xứng với toàn bộ quá trình nghiên cứu, chỉnh sửa và đồng hành với sản xuất, thay vì chỉ được tính cho một bản thảo ban đầu.