Đâu đó những năm 10 tuổi, tôi mới được theo ngoại từ xứ nem Lai Vung lên thị trấn Cao Lãnh. Rồi như đám sáo sổ lồng, tôi rời Cửu Long lên thị thành mãi cho đến tận nay. Thoảng khi về lại Cao Lãnh cũng chỉ quá giang chặng ngắn trong chuyến đời dài bôn ba khắp miền Tây, hiếm khi được ở lại dăm ba ngày thư thả để lòng vòng xứ này. Phải đến hôm nay, người em rủ về ăn giỗ ông bà Đỗ Công Tường-bậc tiền nhân khai phá đất đai, tôi mới sực nhớ một khoảng ký ức mình đã đánh rơi ở đây.

Cao Lãnh có thể nói là vùng đất đặc biệt của Đồng bằng sông Cửu Long. Trong công cuộc mở đất Nam bộ, năm 1741, Chúa Nguyễn Phúc Khoát cho lập 9 kho thuế riêng gọi là khố trường biệt nạp. Kho Bả Canh xưa ấy, nay là địa bàn phường Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Bả Canh nguyên là tên gọi một làng của người Việt ở thôn Bả Canh, xã Đập Đá, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định trước đây (nay là phường An Nhơn, tỉnh Gia Lai). Lưu dân tiên phong khai phá vùng đất này đa số thuộc thôn trên. Lúc mới khai hoang, địa danh nơi đây chưa có nên cư dân đã dùng tên làng cũ của mình để đặt cho vùng quê mới và xóm Bả Canh được định danh từ đó. Theo sử liệu cuối thế kỷ 19, khi Văn Thánh miếu và địa danh Câu Lãnh ra đời, lịch sử khố trường Bả Canh được viết tiếp trang mới.

 Nghi lễ giỗ ông bà Đỗ Công Tường. Ảnh: VÕ HỮU NGHỊ

Kỳ thực, nhắc đến vùng đất Cao Lãnh phải nhắc đến một người. Theo sử sách ghi lại, ông Đỗ Công Tường người gốc miền Trung, theo gia đình di cư vào Nam thời các chúa Nguyễn. Ông có tục danh là Lãnh, cùng vợ chăm chỉ khai khẩn nên sớm khá giả, dư ăn từ huê lợi của khu vườn quýt. Đây là nơi rộng rãi, mát mẻ, lại thuận tiện cả đường sông lẫn đường bộ nên dân trong thôn thường nhóm họp ở đây để mua bán, lần hồi thành chợ. Thấy thế, ông bà che cất lều quán bằng tre lá nơi mảnh vườn cho bà con có chỗ che nắng mưa, thuận tiện mua bán. Rồi các sạp tiệm bên chợ Hòa Thành (là Hòa An bây giờ) cũng dời qua, khiến khu chợ ngày càng xôm tụ. Biết ông có tính cương trực, thông thuộc kinh sách nên thôn dân cử ông giữ chức Câu đương, trông coi việc phân xử những vụ tranh tụng nhỏ trong thôn làng. Từ đó, mọi người quen gọi ông là Câu Lãnh. Còn khu chợ ở vườn quýt nhà ông cũng được người dân gọi tên là chợ Câu Lãnh. Trải qua biến thiên thời cuộc với những di dân đến đi và pha trộn âm tiếng nhiều vùng miền, chữ Câu Lãnh đọc trại đi thành Cao Lãnh như bây giờ.

Mùa hè năm Canh Thìn (1820), dịch tả lan tràn khắp các tỉnh Nam Kỳ. Theo sử liệu thống kê có hàng vạn người chết và nhà Nguyễn đã ra lệnh trợ cấp tử tuất. Đất Bả Canh thuộc thôn Mỹ Trà lúc bấy giờ, đồng bào bị mắc bệnh dịch tả chết rất nhiều, có nhiều gia đình chết gần hết. Là người nhơn đức, ông bà Đỗ Công Tường lo tìm thầy thuốc cứu chữa cho bá tánh, một mặt cầu khẩn trời Phật để ông bà chết thế cho dân. Ông bà tắm gội sạch sẽ, lập bàn hương án giữa trời cầu khấn, nguyện ăn chay, nằm đất 3 ngày để tỏ tất lòng thành. Tối mồng 9-6 năm Canh Thìn, bà qua đời. Đang lo tang lễ cho bà thì ông cũng phát bệnh qua đời vào mồng 10. Người dân cảm nghĩa cử cao đẹp của ông bà nên lo chôn cất cẩn thận. Sau khi ông bà mất ít lâu, cơn dịch bệnh cũng dần dứt hẳn. Tưởng nhớ công ơn ấy nên người dân cùng nhau dựng ngôi miếu thờ ông bà bên rạch Thầy Khâm, gọi là miếu Ông Bà Chủ Chợ. Đồng thời, thành lập Hội cúng tế để cúng bái, duy tu, bảo dưỡng, xây dựng miếu (đền) khang trang cho đến ngày nay.

Năm 1935, Vua Bảo Đại phong sắc cho ông bà là “Dực bảo trung hưng linh phò chi thần”. Đây cũng là bằng chứng lịch sử có giá trị về công lao của ông bà đối với vùng đất Cao Lãnh và địa danh ấy đã tồn tại hơn 200 năm. Ngày 8-7-2019, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có quyết định xếp hạng Mộ và Đền thờ ông bà Đỗ Công Tường là Di tích lịch sử văn hóa quốc gia. Hằng năm, vào mồng 9 và mồng 10-6 âm lịch, Lễ giỗ ông bà Đỗ Công Tường luôn thu hút rất nhiều người dân bản xứ cũng như khách du lịch khắp nơi tìm đến tham dự.

 Chợ Cao Lãnh. Ảnh: VÕ HỮU NGHỊ

Lịch sử hình thành và phát triển của một vùng đất gắn liền với công sức, thậm chí cả máu của nhiều thế hệ cư dân từ thuở khai hoang mở cõi, chống ngoại xâm và xây dựng quê hương, xóm làng. Từ khố trường Bả Canh buổi đầu đến Mỹ Trà thôn, khu tham biện Cần Lố và phường Cao Lãnh hôm nay là những chặng đường lịch sử của vùng đất mà không phải ai cũng tường minh.

Tôi dạo qua các con đường trung tâm từ miếu thờ ông bà Đỗ Công Tường cho đến chợ Cao Lãnh, thấy một nếp sống hào sảng quê kiểng của xứ sen hồng bấy nhiêu năm vẫn vẹn nguyên trong lời gọi “cưng ơi”, tiếng đệm “à nghen” giữa liến xáo buổi chợ sớm mai. Tôi chợt nhớ đến một người rất đặc biệt của xứ Cao Lãnh này, lễ giỗ của Cụ vào ngày 27-10 âm lịch hằng năm được tỉnh Đồng Tháp tổ chức với quy mô lễ hội cấp tỉnh.

Rời tiếng trống lân tùng xèng của lễ giỗ, tôi tìm đến Khu di tích Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc-thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cụ đã dừng chân và gắn bó với mảnh đất Cao Lãnh này để chữa bệnh cứu người, truyền dạy đạo lý và gieo mầm yêu nước cho bao thế hệ. Cụ Nguyễn Sinh Sắc mất trong vòng tay yêu thương của người dân làng Hòa An (Cao Lãnh) vào đêm 26, rạng sáng 27-10 năm Kỷ Tỵ (1929).

Tôi ghé đến ngôi mộ Cụ Phó bảng khi nắng đã vượt ngọn tre, mộ quay về hướng Đông, có mái hình cánh sen cách điệu. Trên mái đắp nổi tượng 9 con rồng, tượng trưng cho các nhánh sông Cửu Long. Khuôn viên lăng mộ có nhiều loại cây cảnh, hoa trái quý hiếm được bà con khắp cả nước mang về trồng lưu niệm, đặc biệt là cây khế gần 300 tuổi nằm bên trái mộ và cây sộp hơn 300 tuổi nằm bên phải mộ. Phía trước mộ là ao sen hình ngôi sao 5 cánh, chính giữa sừng sững một đài sen trắng tượng trưng cho cuộc đời thanh bạch của Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc và đó cũng là biểu tượng của tỉnh Đồng Tháp.

Trong ký ức của mình với mảnh đất này, tôi nhớ như in câu chuyện ngoại thường hay nhắc về người em trai út của ngoại ra đi tập kết trên chuyến tàu cuối của ngày 29-10-1954 từ bến phà Cao Lãnh. Hóa ra, những chuyến phà sang sông ngày còn thơ bé tôi hay thắc mắc sao ngoại cứ đứng miết trên bờ, lần khần một đỗi mới chịu rời chân. Con sóng lao xao vỗ bờ ngày đó vỗ thắt ruột gan ngoại ngày tiễn em đi nhưng chẳng thể đón được em mình ngày về.

Nam Bộ có 3 khu vực tập kết chuyển quân của Quân đội nhân dân Việt Nam là Hàm Tân-Xuyên Mộc (trong thời gian 80 ngày); Cao Lãnh, Đồng Tháp Mười (100 ngày) và mũi Cà Mau (200 ngày). Thị trấn Cao Lãnh ngày đó được chọn làm điểm tập kết chuyển quân ra miền Bắc trong 100 ngày. Nơi đây đã đón tiếp và đưa tiễn hơn 13.500 cán bộ, chiến sĩ, con em miền Nam và quân tình nguyện xuống tàu tập kết ra Bắc. Riêng tỉnh Long Châu Sa-tên gọi ngày đó của tỉnh Đồng Tháp-có hơn 2.500 người. Ngoại kể, bến phà Cao Lãnh khi ấy người dân tiễn đưa rất đông. Cứ người đứng trên bờ lưu luyến vẫy tay chào người đi. Chiều đó cũng là lần cuối ngoại nhìn thấy được em trai mình. Cho đến ngày ngoại về với sóng nước Cửu Long, người em trai vẫn mãi mãi thanh xuân với đất rừng Trường Sơn, chẳng tung tích để quy hồi cố xứ.

Địa điểm đặc biệt ngày ấy, nay được quy hoạch thành khuôn viên rộng 12.000m2, xây dựng Tượng đài tưởng niệm sự kiện tập kết năm 1954 và hoàn thành vào năm 2019. Đến tháng 2-2023, Địa điểm tập kết ra Bắc năm 1954 tại Cao Lãnh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia. Tôi thắp nén nhang trầm, nghe sóng nước võ vàng cả chiều Cửu Long.

Khoảnh khắc chiếc xe vun vút đưa tôi về phố thị mới hay dòng trôi ký ức về một vùng đất không thể chỉ dăm ba bữa mà thấu trọn. Chí ít còn phải quay về thêm nhiều lần nữa mới khảm vào tâm trí mình hai chữ "cố hương".