Động lực từ thể chế

Nhìn lại quá trình phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam, chúng ta đã đi qua giai đoạn phải trả lời câu hỏi: Có nên phát triển CNVH hay không? Câu hỏi của hôm nay là: Làm thế nào để CNVH phát triển đủ nhanh, đủ bền vững và thực sự trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế?

Tái hiện Lễ mở cửa ô trong khuôn khổ Chương trình “Tết Việt - Tết Phố” Xuân Bính Ngọ 2026. Ảnh: THANH TÙNG 

Những năm qua, CNVH Việt Nam đã có bước tiến đáng kể. Năm 2015, nhóm ngành này đóng góp khoảng 2,68% GDP, năm 2019 là 3,42%, giai đoạn 2018-2022 đóng góp ước đạt trên 4% GDP. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7-1-2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt mục tiêu CNVH đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và 9% GDP vào năm 2045. Khoảng cách ấy cho thấy cần một bước đột phá về thể chế.

Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14-11-2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành CNVH Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định 10 ngành CNVH, đặt mục tiêu đến năm 2030 tăng trưởng bình quân khoảng 10%/năm, lực lượng lao động tăng khoảng 10%/năm, giá trị xuất khẩu tăng khoảng 7%/năm. Những mục tiêu đó cho thấy CNVH đã được đặt vào một vị trí mới trong mô hình tăng trưởng.

Vấn đề là thể chế hiện nay chưa được thiết kế theo logic của CNVH. Pháp luật chủ yếu tổ chức theo từng lĩnh vực: Điện ảnh, xuất bản, di sản, sở hữu trí tuệ, đầu tư, thuế... Trong khi đó, sản phẩm CNVH vận hành theo chuỗi giá trị. Một bộ phim không chỉ thuộc về lĩnh vực điện ảnh mà còn liên quan đến bản quyền, âm nhạc, quảng cáo, du lịch, nền tảng số và sản phẩm phái sinh; một trò chơi điện tử có thể bắt đầu từ lịch sử, mỹ thuật, âm nhạc rồi liên quan đến phần mềm, sở hữu trí tuệ và xuất khẩu.

Vì vậy, điều còn thiếu không hẳn là thêm một thủ tục hay giấy phép, mà là cơ chế kết nối toàn bộ chuỗi giá trị từ sáng tạo, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, huy động vốn, sản xuất, phân phối đến thương mại hóa và tái đầu tư. Đây chính là lý do Luật Phát triển CNVH cần được ban hành lúc này.

Nghị quyết số 80-NQ/TW đã xác định văn hóa và con người là nền tảng, động lực, trụ cột và hệ điều tiết cho phát triển bền vững; đồng thời đặt ra yêu cầu về kiến tạo thị trường, phát triển doanh nghiệp và các không gian sáng tạo. Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội tiếp tục mở ra những cơ chế mới về nguồn lực và thí điểm Quỹ Văn hóa, nghệ thuật theo mô hình hợp tác công-tư, đầu tư mạo hiểm, chấp nhận rủi ro theo nguyên tắc thị trường.

Như vậy, chúng ta đã có chủ trương và những cơ chế đột phá ban đầu. Luật Phát triển CNVH cần tạo một khung thể chế ổn định để các chính sách ấy vận hành thành một hệ sinh thái thực sự. Nếu được thiết kế tốt, luật sẽ giúp xác lập rõ hơn vị trí của CNVH trong nền kinh tế, tháo gỡ các điểm nghẽn liên ngành và tạo điều kiện để sản phẩm văn hóa Việt Nam đi xa hơn.

 Chương trình “Anh trai vượt ngàn chông gai” gặt hái nhiều thành công về chuyên môn và doanh thu. Ảnh: NAM NGUYỄN

Nói một cách dễ hiểu, luật phải giúp nối con đường còn đứt gãy hiện nay: Từ ý tưởng đến tác phẩm, từ tác phẩm đến tài sản trí tuệ, từ tài sản trí tuệ đến vốn, từ vốn đến sản phẩm, từ sản phẩm đến thị trường và từ thị trường trở lại nuôi dưỡng sáng tạo.

Điểm mới cần được phát huy, tránh tạo thêm “xin-cho”

Dự thảo tập trung vào các nhóm chính sách lớn như tài sản trí tuệ, hạ tầng CNVH, nhân lực, thị trường và thu hút đầu tư. Cách tiếp cận này đáng ghi nhận vì luật bắt đầu được xây dựng theo các yếu tố cấu thành một hệ sinh thái phát triển, thay vì chỉ theo tư duy quản lý từng hoạt động văn hóa.

Điểm mới đáng chú ý nhất là đặt tài sản trí tuệ ở vị trí trung tâm. Một doanh nghiệp sản xuất có thể có đất đai, nhà xưởng, máy móc để làm tài sản bảo đảm; nhưng doanh nghiệp sáng tạo có thể chỉ sở hữu một kịch bản hay, một hình tượng nhân vật, một thương hiệu, một thiết kế, một phần mềm hay cộng đồng người sử dụng. Đó đều có thể là những tài sản rất có giá trị, nhưng việc định giá, góp vốn hay tiếp cận tín dụng hiện vẫn khó. Nếu luật tạo được cơ chế nhận diện, định giá, giao dịch và khai thác minh bạch hơn, đây sẽ là một cánh cửa vốn rất quan trọng cho khu vực sáng tạo.

Điểm thứ hai là dự thảo nhìn hạ tầng CNVH rộng hơn những thiết chế truyền thống. Hạ tầng hôm nay không chỉ là nhà hát, bảo tàng hay trung tâm triển lãm mà còn là phim trường, không gian sáng tạo, nền tảng số và hạ tầng dữ liệu. Nghị định số 277/2026/NĐ-CP ngày 9-7-2026 về hạ tầng văn hóa số cho thấy hạ tầng văn hóa đang bước vào một giai đoạn mới.

Tuy nhiên, từ góc độ đại biểu Quốc hội và một người nhiều năm nghiên cứu về văn hóa, tôi cho rằng dự thảo vẫn cần tiếp tục hoàn thiện. Trước hết, luật phải thật sự là luật phát triển, không trở thành một lớp thủ tục mới. Nếu mỗi sản phẩm “trọng điểm”, mỗi khu sáng tạo, mỗi tài sản trí tuệ hay thương hiệu lại phải qua một quy trình xin công nhận rồi mới được hưởng chính sách, chúng ta có thể vô tình hình thành thêm một vòng “xin-cho”.

Công chúng tham quan, trải nghiệm tri thức làm bánh cuốn làng Thanh Trì (nay thuộc phường Vĩnh Hưng, TP Hà Nội). Ảnh: KHÁNH HÒA  

Chính sách hỗ trợ nên chuyển mạnh từ “công nhận tư cách” sang đo bằng kết quả. Một doanh nghiệp được hỗ trợ thì cần nhìn xem đã tạo ra bao nhiêu việc làm, tài sản trí tuệ, doanh thu, xuất khẩu hay tác động xã hội. Một khu sáng tạo cần được đánh giá bằng số doanh nghiệp, người sáng tạo, sản phẩm và hoạt động thực tế, chứ không phải bằng tấm biển treo ở cổng.

Điều quan trọng không kém là cần làm rõ hơn vai trò của con người sáng tạo. CNVH không bắt đầu từ công trình mà từ con người: Nghệ sĩ, nhà sản xuất, chuyên gia bản quyền, nhà thiết kế, lập trình viên, quản trị, marketing và phân phối. Luật phải tạo điều kiện để người tài có thể học, làm việc, thử nghiệm và sống được bằng sáng tạo.

Ngoài ra, cần đặc biệt chú ý đến dữ liệu văn hóa. Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo (AI), di sản, âm nhạc, hình ảnh, ngôn ngữ, thư tịch và lịch sử của Việt Nam có thể trở thành nguồn tài nguyên sáng tạo rất lớn. Dữ liệu phải được số hóa có chuẩn, xác định rõ quyền, nguồn gốc và cơ chế khai thác. Chỉ khi có thể tái sử dụng hợp pháp cho phim, game, thiết kế, giáo dục và AI, chúng ta mới thực sự biến tài nguyên thành nguồn lực.

Điều cần chú ý là giữ một triết lý thật rõ khi hoàn thiện luật: Nhà nước không làm thay thị trường, không lựa chọn thay công chúng và không hành chính hóa sáng tạo. Nhà nước tạo nền tảng, bảo vệ quyền, đầu tư cho những hạ tầng thị trường chưa thể tự làm, chia sẻ một phần rủi ro và mở ra cơ hội công bằng cho các chủ thể sáng tạo.

Nếu giữ được tinh thần ấy, Luật Phát triển CNVH có thể tạo ra môi trường để người Việt Nam sống tốt hơn bằng tài năng sáng tạo, doanh nghiệp Việt Nam lớn lên từ tài sản trí tuệ Việt Nam và những câu chuyện, hình ảnh, giá trị Việt Nam bước ra thế giới bằng những sản phẩm đủ hấp dẫn, cạnh tranh.