Phát triển - tập trung vào "chất" và sự bền vững
Tại hội thảo, TS Cấn Văn Lực (Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia) nhấn mạnh sự cần thiết phải phân định rõ ràng hai khái niệm cốt lõi "mô hình tăng trưởng" và "mô hình phát triển". Theo đó, mô hình tăng trưởng chủ yếu tập trung vào khía cạnh "lượng" trong ngắn và trung hạn như tốc độ tăng GDP, thu nhập hay giải quyết việc làm-đóng vai trò là "điều kiện cần". Mô hình phát triển có phạm vi rộng hơn, tập trung vào "chất" và sự bền vững trong dài hạn, bao gồm chất lượng cuộc sống, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, quốc phòng, an ninh và hướng tới tầm nhìn 2045-2050, đóng vai trò là "điều kiện đủ". Để phát triển nhanh, bền vững và bao trùm, Việt Nam không thể tách rời hai yếu tố này mà phải đồng thời đổi mới mô hình tăng trưởng và xác lập mô hình phát triển phù hợp.
 |
| Sản xuất hàng xuất khẩu tại Công ty TNHH MTV Cơ khí 83. |
Đánh giá thực trạng giai đoạn 5 năm vừa qua, các chuyên gia đã chỉ ra những điểm nghẽn mang tính cấu trúc của nền kinh tế. Cụ thể là hiệu quả phân bổ vốn còn hạn chế. Hệ số ICOR giai đoạn 2021-2025 ở mức 6,43, phản ánh vốn đầu tư nhìn chung vẫn còn dàn trải, hiệu quả phân bổ và sức lan tỏa của khu vực đầu tư tư nhân chưa cao.
Chất lượng lao động và năng suất thấp. Theo công bố mới nhất của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), lực lượng lao động của nước ta là 53.699.800 người, trong đó có 32.542.000 người ở khu vực nông thôn. Điều đó cho thấy năng suất lao động bị kìm hãm lớn khi có tới 60,6% lao động tập trung ở khu vực nông thôn. Trong khi đó, tỷ lệ lao động phi chính thức còn cao. Tốc độ tăng năng suất lao động bình quân chỉ đạt 5,2%/năm, chưa đạt mục tiêu đề ra là trên 6,5%/năm.
Kinh tế số và công nghiệp chế biến chưa đạt chỉ tiêu. Tỷ trọng kinh tế số trong GDP giai đoạn 2021-2025 chỉ đạt 14% (chỉ tiêu là 20%) và tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 24,7% GDP (chỉ tiêu là trên 25%).
Cùng với đó, thị trường tài chính, bất động sản tiềm ẩn nhiều rủi ro; công tác cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, giải ngân đầu tư công còn chậm và bộ máy thực thi ở chính quyền địa phương vẫn gặp không ít vướng mắc.
Kích hoạt động lực mới có thể giúp tăng 2,8 - 3,7 điểm phần trăm GDP mỗi năm
Bước sang giai đoạn 2026-2030, mặc dù dự báo kinh tế thế giới giảm đà tăng trưởng (chỉ đạt khoảng 3%/năm) và thương mại toàn cầu gia tăng rủi ro bảo hộ, Việt Nam lại đứng trước những cơ hội lớn từ quyết tâm thúc đẩy tăng trưởng, làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng và giai đoạn dân số vàng kéo dài đến hết năm 2037.
Đặc biệt, việc ban hành các chính sách chiến lược như Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28-7-2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28-8-2026 về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới cùng việc vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp đang tạo ra hành lang pháp lý đột phá.
Về phương thức chuyển đổi, thay vì đi tuần tự từ đầu tư (investment) tới hấp thụ (infusion) rồi tới đổi mới sáng tạo (innovation) theo khuyến nghị truyền thống của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam chọn chiến lược đi tắt đón đầu bằng cách thực hiện đồng thời cả 3 bước. Nền kinh tế sẽ chuyển dịch trọng tâm từ dựa vào vốn và lao động sang dựa chủ yếu vào năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP).
Theo tính toán lượng hóa của Nhóm nghiên cứu BIDV do TS Cấn Văn Lực chủ trì, nếu được khai thác hiệu quả ngay từ năm 2026, các động lực tăng trưởng mới có thể đóng góp tăng thêm 2,8-3,7 điểm phần trăm GDP mỗi năm. Cụ thể, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đóng góp tăng thêm 1,0-1,2 điểm phần trăm; thúc đẩy các đầu tàu và liên kết vùng đóng góp tăng thêm 0,6-0,8 điểm phần trăm; cải cách thể chế kinh tế đóng góp tăng thêm 0,5-0,7 điểm phần trăm; chuyển đổi xanh đóng góp tăng thêm 0,2-0,3 điểm phần trăm; đóng góp khác (bao gồm cả xử lý các dự án tồn đọng, yếu kém) tăng thêm 0,5-0,7 điểm phần trăm.
Để hiện thực hóa khát vọng tăng trưởng hai con số, các chuyên gia đề xuất kiên định kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá, bình ổn mặt bằng lãi suất và giảm lãi suất có trọng điểm cho các lĩnh vực ưu tiên; đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế; xây dựng kế hoạch phân bổ nguồn lực hiệu quả. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và 5 nhân tố TFP, tập trung vào 5 trụ cột tăng TFP (khoa học, công nghệ, chuyển đổi số; đổi mới giáo dục-đào tạo; hiệu quả thị trường; cơ sở hạ tầng và thể chế quản trị). Cùng với đó, cần bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh chuỗi cung ứng và an ninh mạng. Đây là hệ dữ liệu nhằm chủ động ứng phó với rủi ro địa chính trị và biến đổi khí hậu.
Với việc đổi mới mô hình tăng trưởng giai đoạn 2026-2030, việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa giải phóng nguồn lực thể chế, đẩy mạnh chuyển đổi số, kinh tế xanh và nâng cao năng suất lao động sẽ là bệ phóng đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên bứt phá, hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và hướng tới quốc gia phát triển vào năm 2045.