Xuất phát từ thực tế trên, các nhà khoa học Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) triển khai thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia “Nghiên cứu xây dựng mô hình và giải pháp lồng ghép hành lang bảo vệ bờ biển trong quản lý tổng hợp vùng bờ biển ở Việt Nam”, mã số KC.09.02/21-30, do PGS, TS Đặng Kinh Bắc làm chủ nhiệm.

Hành lang bảo vệ bờ biển có vai trò quan trọng

Hành lang bảo vệ bờ biển (HLBVBB) là dải đất hẹp chạy dọc theo bờ biển, có chiều rộng chỉ vài chục đến vài trăm mét nhưng giữ vai trò quan trọng trong bảo vệ hệ sinh thái ven biển, tài sản, dân cư, cảnh quan tự nhiên và phòng chống rủi ro thiên tai. Theo “Luật Tài nguyên, Môi trường Biển và Hải đảo” được Quốc hội thông qua ngày 25-6-2015, có hiệu lực từ ngày 1-7-2016, tại Khoản 1, Điều 23 quy định: “Hành lang bảo vệ bờ biển là dải đất ven biển được thiết lập ở những khu vực cần bảo vệ hệ sinh thái, duy trì giá trị dịch vụ của hệ sinh thái và cảnh quan tự nhiên ở vùng bờ; giảm thiểu sạt lở bờ biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; bảo đảm quyền tiếp cận của người dân với biển”. Cũng theo Luật này, tại Khoản 2, Điều 79 quy định: “Trong thời hạn 18 tháng kể từ thời điểm Luật này có hiệu lực thi hành, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển có trách nhiệm thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển thuộc phạm vi quản lý”. 

Tính đến tháng 12-2024, sau hơn 8 năm Luật Tài nguyên, Môi trường biển và hải đảo có hiệu lực thi hành, việc thiết lập HLBVBB đã được triển khai tại 27/28 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển (số tỉnh, thành trước ngày 1-7-2025), đạt tỉ lệ 96,42 %; với 17 địa phương đoàn hoàn thành cắm mốc giới HLBVBB, như vậy đã có hơn 60% các địa phương hoàn thành việc thiết lập HLBVBB theo quy định.  

Trong nhiệm vụ thiết lập HLBVBB, hầu hết các địa phương đều xây dựng quy định về quản lý HLBVBB, song chưa gắn dải đất này với tổng thể vùng bờ, chưa gắn quản lý HLBVBB với quản lý tổng hợp vùng bờ biển (QLTHVBB). Các nguy cơ tác động đến bờ biển không chỉ đến từ HLBVBB mà còn từ phía ngoài HLBVBB, cả về phía biển và về phía lục địa. Nhằm quản lý tốt các chức năng của HLBVBB, hướng tới phát triển bền vững vùng bờ đòi hỏi phải có cách tiếp cận rộng hơn, mang tính liên vùng và tích hợp.

Ảnh minh họa/TTXVN 

Nhằm đảm bảo sự ổn định, bền vững của HLBVBB, bảo tồn và phát huy có hiệu quả của tài nguyên vùng bờ, cần phải xây dựng được mô hình quản lý theo kiểu tích hợp, thống nhất của cả vùng bờ và HLBVBB. Đây là cơ sở khoa học quan trọng cho các cơ quan quản lý tham khảo hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về quản lý vùng bờ và HLBVBB, giúp các địa phương có kế hoạch và một tiếp cận mới trong quản lý, khai thác sử dụng hợp lý vùng bờ biển.

Do vậy, “Nghiên cứu xây dựng mô hình và giải pháp lồng ghép hành lang bảo vệ bờ biển trong quản lý tổng hợp vùng bờ biển ở Việt Nam” nhằm xác lập được luận cứ khoa học về mô hình lồng ghép HLBVBB trong QLTHVBB Việt Nam; đánh giá được thực trạng quản lý HLBVBB và quản lý tổng hợp vùng bờ ở các kiểu vùng bờ chính của nước ta; Đề xuất được mô hình và giải pháp lồng ghép hành lang bảo vệ bờ biển trong quản lý tổng hợp vùng bờ biển ở Việt Nam.

Khoa học và công nghệ phát triển bền vững kinh tế biển

Nghị quyết số 48/NQ-CP năm 2023 phê duyệt chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã nhấn mạnh về nghiên cứu quản lý vùng bờ biển. Trong định hướng về khoa học và công nghệ, Nghị quyết nhấn mạnh “Xây dựng và phát triển công cụ, thiết bị, hệ thống hỗ trợ ra quyết định kiểm soát hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển; giám sát môi trường, kiểm soát ô nhiễm môi trường biển theo hướng tích hợp”.

Hành lang bảo vệ bờ biển có ý nghĩa quan trọng bảo vệ hệ sinh thái, giảm thiểu thiệt hại do xói lở bờ biển và đảm bảo quyền tiếp cận của người dân với biển/ Ảnh minh họa/TTXVN 

Đề tài hướng tới xây dựng luận cứ khoa học và đưa ra các giải pháp, mô hình lồng ghép HLBVBB trong QLTHVBB, gồm mô hình tổng quát cho toàn quốc và mô hình triển khai ở một số kiểu bờ đặc trưng (bờ biển châu thổ, bờ biển mở với vai trò chủ đạo của sóng, bờ biển vũng vịnh,…) với sự tham gia của cộng đồng địa phương ven biển. Đề tài cũng triển khai mô hình trình diễn quy mô cấp tỉnh và liên huyện (nay là liên xã) tại phía Nam thành phố Đà Nẵng. Điểm nhấn của mô hình trình diễn quy mô cấp tỉnh và liên xã là tích hợp ứng dụng viễn thám, trí tuệ nhân tạo AI, công nghệ truyền thông với sự tham gia của cộng đồng trong giám sát biến động tài nguyên, môi trường, đặc biệt là biến động bờ biển - cửa sông, các hệ sinh thái vùng bờ, rác thải bờ biển và quyền tiếp cận với biển của cộng đồng nhằm quản lý có hiệu quả HLBVBB trong tổng thể QLTHVBB.

Không chỉ mang ý nghĩa quản lý, mô hình còn mở ra không gian phát triển mới cho các ngành kinh tế biển, đặc biệt là du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng. Về tác động và lợi ích mang lại của kết quả nghiên cứu, PGS, TS Đặng Kinh Bắc cho rằng, HLBVBB và mô hình lồng ghép HLBVBB trong QLTHVBB còn khá mới và chưa được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam. Việc xây dựng cơ sở lý luận, đặc biệt là bộ tiêu chí cho mô hình lồng ghép HLBVBB trong QLTHVBB trên cơ sở tổng hợp, phân tích, đánh giá các nghiên cứu và thực tiễn triển khai ở nước ngoài sẽ là đóng góp quan trọng cho hoàn thiện cơ sở lý luận về QLTHVBB và lồng ghép HLBVBB trong QLTHVBB. Nghiên cứu xây dựng nội dung, cấu trúc, chức năng và quy trình triển khai, vận hành mô hình lồng ghép HLBVBB trong QLTHVBB ở Việt Nam sẽ góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận của quản lý HLBVBB, là kinh nghiệm cho các địa phương có biển triển khai mô hình quản lý HLBVBB hướng tới phát triển bền vững vùng bờ.

Với cách tiếp cận hệ thống, tiếp cận địa lý - lịch sử, tiếp cận dựa vào hệ sinh thái, tiếp cận phát triển bền vững và tiếp cận ứng dụng công nghệ 4.0, đề tài sẽ góp phần hoàn thiện về khoa học địa lý - tài nguyên và môi trường trong quản lý lãnh thổ, quản lý biển nói chung và quản lý vùng bờ biển nói riêng. 

Mô hình trình diễn lồng ghép HLBVBB trong QLTHVBB góp phần để Việt Nam bảo vệ tài nguyên biển, mở rộng không gian phát triển kinh tế, bảo vệ cộng đồng ven biển và hướng tới tương lai bền vững, nơi người dân không chỉ sống nhờ biển mà sống cùng biển, bảo vệ biển và hưởng lợi từ hệ sinh thái biển.

THU HIỀN

* Mời bạn đọc vào chuyên mục Giáo dục Khoa học xem các tin, bài liên quan.