Khi “thế giới báo cáo” lấn át thực tiễn
Trong công tác lãnh đạo, quản lý, báo cáo là một công cụ cần thiết. Không có báo cáo, thông tin được tổng hợp, phân tích, việc điều hành khó bảo đảm thống nhất, kịp thời. Nhưng báo cáo chỉ có giá trị khi phản ánh trung thực đời sống; còn nếu cán bộ chỉ biết đến thực tiễn qua những trang giấy, những con số, những cuộc họp thì rất dễ rơi vào một “thế giới báo cáo” xa rời cuộc sống.
Đây chính là điều Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo từ rất sớm. Trong tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc" (năm 1947), Người phê phán bệnh quan liêu, bàn giấy, hình thức và yêu cầu cán bộ phải sâu sát thực tế, gần gũi quần chúng, kiểm tra công việc đến nơi đến chốn. Người chỉ rõ, muốn biết công việc được thực hiện thế nào thì không thể chỉ ngồi trong phòng giấy chờ báo cáo, mà phải đi đến tận nơi, xem xét tận chỗ.
Lời căn dặn ấy đến nay vẫn vẹn nguyên giá trị, bởi thực tiễn luôn phong phú, sinh động và biến đổi không ngừng. Một chủ trương khi đi vào cuộc sống có thể phát sinh những vấn đề mà không một bản báo cáo nào dự liệu đầy đủ. Một chính sách có thể rất đúng về chủ trương nhưng khi triển khai lại gặp những vướng mắc cụ thể. Một con số có thể phản ánh kết quả, nhưng chưa chắc đã phản ánh hết chất lượng và hiệu quả của công việc.
Nếu không trực tiếp nắm tình hình, cán bộ rất dễ nhìn cuộc sống qua “lăng kính” của báo cáo; mà báo cáo nếu thiếu kiểm chứng, có thể vô tình hoặc hữu ý làm cho thực tiễn trở nên “đẹp” hơn. Đó là lúc "bệnh bàn giấy" bắt đầu bén rễ.
 |
| Minh họa: TÔ NGỌC |
Bàn giấy tự nó không có lỗi; cán bộ thường phải làm việc với hồ sơ, văn bản, số liệu, kế hoạch. Vấn đề đáng phê phán là “tư duy bàn giấy”, tức lấy giấy tờ thay cho thực tiễn, lấy thủ tục thay cho kết quả, lấy việc “đã làm” thay cho câu hỏi “làm có hiệu quả hay không”.
Biểu hiện của "bệnh bàn giấy" có khi rất dễ nhận thấy: Hội họp nhiều nhưng công việc chuyển biến ít; văn bản đầy đủ nhưng việc tổ chức thực hiện còn chậm; báo cáo được chuẩn bị công phu nhưng những vấn đề nổi cộm ở cơ sở lại chưa được giải quyết; kiểm tra có chương trình, có biên bản nhưng chưa phát hiện được những khó khăn thực chất...
Đáng lo hơn là khi "bệnh bàn giấy" kết hợp với bệnh hình thức, thành tích; khi đó, người ta có thể quan tâm nhiều đến việc hoàn thiện hồ sơ hơn là hoàn thành nhiệm vụ; chú trọng những con số “đẹp” hơn những chuyển biến thật; quan tâm đến việc báo cáo thế nào hơn việc người dân, cán bộ cơ sở và đơn vị trực tiếp thực hiện đánh giá ra sao.
Trên giấy rất đúng nhưng trong thực tế chưa chắc đã tốt, khoảng cách ấy nếu không được nhận diện, thu hẹp kịp thời sẽ trở thành vấn đề đáng suy nghĩ.
Một nghị quyết chỉ thực sự có sức sống khi được tổ chức thực hiện hiệu quả. Một chủ trương chỉ thật sự đi vào cuộc sống khi tạo ra chuyển biến cụ thể. Một cuộc kiểm tra chỉ có ý nghĩa khi sau kiểm tra, những hạn chế được chỉ ra, trách nhiệm được xác định và giải pháp được thực hiện.
PGS, TS Cao Văn Trọng, Phó vụ trưởng Vụ Lý luận chính trị, Ban Tuyên giáo Trung ương cho rằng: Không thể lấy số cuộc họp để đo hiệu quả lãnh đạo; không thể lấy số văn bản để đo năng lực quản lý; càng không thể lấy một bản báo cáo đẹp để thay thế cho một kết quả thực tế chưa đạt yêu cầu.
“Bệnh bàn giấy” trong thời đại số
Điều đáng chú ý là trong điều kiện hiện nay, "bệnh bàn giấy" không biểu hiện giống như cách đây hàng chục năm. Công nghệ số đã làm thay đổi căn bản phương thức làm việc. Cán bộ có thể xử lý công việc trên máy tính, điện thoại; tiếp nhận thông tin qua các nền tảng số; họp trực tuyến; khai thác cơ sở dữ liệu và điều hành công việc từ xa. Đó là những thành tựu cần được phát huy, nhưng cũng chính trong môi trường ấy, "bệnh bàn giấy" có thể chuyển sang một dạng tinh vi hơn: “Bệnh màn hình”.
Người cán bộ có thể tiếp cận rất nhiều thông tin nhưng lại ít tiếp xúc trực tiếp với thực tế; có thể nắm hàng nghìn dữ liệu nhưng chưa chắc hiểu được tâm tư của người dân; có thể theo dõi một địa phương qua các báo cáo điện tử nhưng chưa chắc biết cán bộ cơ sở đang vướng ở đâu, người dân đang cần gì.
Không thể vì có dữ liệu lớn mà coi nhẹ điều tra thực tế; không thể vì có hệ thống quản lý hiện đại mà giảm yêu cầu sâu sát cơ sở. Công nghệ giúp cán bộ nhìn nhanh hơn, rộng hơn, nhưng không thể thay thế hoàn toàn việc nhìn thật, nghe thật và kiểm chứng thật.
PGS, TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cho rằng: Một phản ánh trên mạng có thể là tín hiệu quan trọng, nhưng cần được xác minh. Một con số trong hệ thống có thể rất hữu ích, nhưng cần được đặt trong bối cảnh thực tế. Một báo cáo điện tử có thể giúp lãnh đạo nắm tình hình nhanh chóng, nhưng những vấn đề phức tạp, nhạy cảm, nhiều chiều đôi khi vẫn đòi hỏi cán bộ phải trực tiếp xuống cơ sở, gặp gỡ con người và lắng nghe những điều không dễ xuất hiện trong báo cáo. Vì vậy, chuyển đổi số phải đi cùng đổi mới phương pháp công tác, chứ không thể trở thành cái cớ để cán bộ xa thực tiễn hơn.
Một trong những nguy cơ đáng lưu ý nhất của "bệnh bàn giấy" là tạo ra khoảng cách giữa thực tế và nhận thức về thực tế. Cấp dưới báo cáo chưa sát, cấp trên tiếp nhận thiếu kiểm chứng; cấp dưới ngại nói khó khăn, cấp trên ít đi cơ sở; lâu dần, thông tin bị “lọc” qua nhiều tầng nấc. Những vấn đề cần được giải quyết sớm có thể bị chậm phát hiện. Những khuyết điểm đáng lẽ phải sửa từ nhỏ có thể trở nên nghiêm trọng.
Nguy hiểm hơn, nếu bệnh hình thức đi cùng tâm lý nể nang, ngại va chạm, sợ trách nhiệm thì báo cáo rất dễ trở thành nơi “làm đẹp” thành tích, né tránh hạn chế. Khi ấy, phê bình và tự phê bình không còn phát huy đúng vai trò; kiểm tra, giám sát có nguy cơ trở thành hình thức; trách nhiệm cá nhân bị hòa tan trong những câu chữ chung chung. Đây không còn là chuyện phương pháp làm việc đơn thuần.
Theo Đại tá, TS Hà Sơn Thái, Phó trưởng phòng Khoa học quân sự, Tổng cục Chính trị, nếu cán bộ, đảng viên xa rời thực tế, thiếu trung thực trong phản ánh tình hình, ngại nhìn thẳng vào khuyết điểm thì sẽ làm suy giảm sức chiến đấu của tổ chức đảng, làm giảm hiệu quả lãnh đạo, quản lý. Nếu để kéo dài, những biểu hiện ấy có thể tạo môi trường cho chủ nghĩa cá nhân, bệnh thành tích, quan liêu, né tránh trách nhiệm phát triển; từ đó tác động tiêu cực đến tư tưởng, đạo đức, lối sống và niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Bởi vậy, chống "bệnh bàn giấy", bệnh hình thức cũng là một nội dung thiết thực góp phần phòng ngừa từ sớm, từ xa những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Phương thuốc không mới, nhưng phải làm
Điều đáng quý trong tư tưởng Hồ Chí Minh là Người không chỉ chỉ ra căn bệnh mà còn chỉ rõ cách chữa. Muốn chống "bệnh bàn giấy", trước hết phải đưa cán bộ về với thực tiễn.
Đi cơ sở không phải để hoàn thành một lịch công tác; xuống địa bàn không phải chỉ dự hội nghị, nghe báo cáo rồi trở về. Đi cơ sở để nghe những điều chưa được nói trong báo cáo; nhìn những vấn đề chưa được phản ánh đầy đủ; gặp những người trực tiếp chịu tác động của chủ trương, chính sách; phát hiện những điểm nghẽn và cùng cơ sở tháo gỡ.
Cùng với đó, phải đổi mới mạnh mẽ cách đánh giá cán bộ và đánh giá công việc. Không nên chỉ hỏi: “Đã triển khai chưa?”, mà phải hỏi: “Triển khai đến đâu? Hiệu quả thế nào? Người dân, cơ sở được hưởng lợi gì? Vướng mắc ở đâu? Ai chịu trách nhiệm?”. Đánh giá bằng kết quả thực chất sẽ tạo sức ép tự nhiên để "bệnh bàn giấy", bệnh hình thức không có đất tồn tại.
Phương thuốc hữu hiệu nhất chống căn bệnh này được Chủ tịch Hồ Chí Minh “kê đơn” để trị: “Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy; muốn biết các nghị quyết có được thi hành không, thi hành có đúng không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉ có một cách, là khéo kiểm soát. Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi”. Người cũng chỉ rõ: “Kiểm soát cách thế nào? Cố nhiên, không phải cứ ngồi trong phòng giấy mà chờ người ta báo cáo, mà phải đi tận nơi, xem tận chỗ”. Theo đó, công tác kiểm tra, giám sát cũng phải thực chất hơn, kiểm soát khéo hơn. Kiểm tra không phải để “bắt lỗi” hay hoàn thiện một thủ tục hành chính, mà để biết đúng tình hình, phát hiện đúng vấn đề và giúp tổ chức, cá nhân sửa đúng khuyết điểm.
Đặc biệt, phải xây dựng môi trường trong đó nói thật, báo cáo thật, dám chỉ ra khuyết điểm được khuyến khích, còn che giấu hạn chế, báo cáo sai sự thật, chạy theo thành tích phải được xem xét nghiêm túc.
Bài học lớn nhất mà "Sửa đổi lối làm việc" để lại không chỉ dành cho cán bộ cấp cơ sở. Trái lại, cán bộ càng giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, trách nhiệm càng lớn thì càng phải chống xa rời thực tiễn.
Người đứng đầu nếu sâu sát cơ sở, trực tiếp kiểm tra, lắng nghe và chịu trách nhiệm thì cấp dưới sẽ khó có thể làm việc qua loa, hình thức. Ngược lại, nếu người đứng đầu chỉ quan tâm đến báo cáo, chỉ nhìn vào thành tích được trình bày, cấp dưới rất dễ hình thành tâm lý làm việc để “đẹp hồ sơ”. Vì vậy, chữa "bệnh bàn giấy" trước hết phải bắt đầu từ đổi mới phong cách lãnh đạo, phương pháp công tác và trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu.
Gần 80 năm đã trôi qua kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết "Sửa đổi lối làm việc". Thời đại đã thay đổi, phương tiện làm việc đã thay đổi, nhưng một nguyên lý căn bản không thay đổi: Muốn lãnh đạo đúng phải hiểu đúng thực tiễn; muốn hiểu đúng thực tiễn phải gần dân, sát cơ sở; muốn công việc có hiệu quả phải chống "bệnh bàn giấy", bệnh hình thức.
Căn bệnh Bác Hồ chỉ ra năm xưa không đáng sợ chỉ vì nó vẫn còn những biểu hiện trong đời sống hôm nay. Điều đáng lo hơn là biết bệnh mà chậm chữa, thấy khuyết điểm mà ngại sửa, nhận ra khoảng cách giữa báo cáo và thực tế nhưng vẫn để khoảng cách ấy tồn tại. Bởi vậy, mỗi cán bộ, đảng viên cần thường xuyên tự soi, tự sửa: Mình đã thực sự nắm chắc thực tiễn chưa, đã nghe được những điều cơ sở muốn nói chưa, đã kiểm chứng những gì mình được báo cáo chưa, và những việc mình làm đã tạo ra chuyển biến thực chất gì?
Đừng để những trang giấy, những con số hay những màn hình trở thành “tấm màn” ngăn cán bộ với cuộc sống. Thực tiễn là nơi kiểm nghiệm chủ trương, là thước đo năng lực cán bộ và cũng là nơi mỗi cán bộ, đảng viên phải tìm thấy trách nhiệm của mình.