Bước vào kỷ nguyên phát triển, hội nhập, chuyển đổi số, yêu cầu củng cố, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc càng trở nên cấp thiết. Đó không chỉ là nhiệm vụ chính trị thường xuyên của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, mà còn là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân Việt Nam.

Vấn đề quyết định thành bại của cách mạng

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vai trò, sứ mệnh, sức mạnh của tinh thần đoàn kết, đại đoàn kết toàn dân tộc. Người khẳng định: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác. Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ”. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh: “Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị. Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành bại của cách mạng. Người luôn đặt nhân dân ở vị trí trung tâm, coi nhân dân là gốc, là chủ thể sáng tạo lịch sử. Sức mạnh của cách mạng không chỉ đến từ đường lối đúng, tổ chức chặt chẽ, mà trước hết bắt nguồn từ lòng dân, từ sự đồng thuận, tin tưởng và tham gia tự giác của các tầng lớp nhân dân. Câu nói nổi tiếng “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công” đã trở thành chân lý giản dị mà sâu sắc, khái quát quy luật thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là nguồn sức mạnh và động lực chủ yếu để xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Đại đoàn kết không phải khẩu hiệu chung chung, mà phải được cụ thể hóa trong chủ trương, chính sách, trong tổ chức thực hiện, trong đời sống xã hội và trong từng địa bàn, từng cộng đồng dân cư. Điểm tương đồng để quy tụ mọi người Việt Nam là lợi ích quốc gia - dân tộc, là khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, là ý chí giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ.

Trong điều kiện hiện nay, nội hàm của đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng rộng mở. Đó là đoàn kết giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội; đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo; đoàn kết giữa người ở miền núi, đồng bằng, biên giới, hải đảo, đô thị, nông thôn; đoàn kết giữa người Việt Nam trong nước và đồng bào ta ở nước ngoài; đoàn kết giữa truyền thống và đổi mới, giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Đại đoàn kết cũng gắn liền với dân chủ, kỷ cương, công bằng xã hội, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Khi nhân dân được tôn trọng, được lắng nghe, được tham gia và được thụ hưởng thành quả phát triển, khối đại đoàn kết mới có nền tảng bền vững.

Những năm qua, khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được củng cố và phát huy trên nhiều lĩnh vực. Niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước được bồi đắp thông qua những thành tựu quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, an sinh xã hội và nâng cao đời sống nhân dân. Các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên phát động ngày càng đi vào chiều sâu, hướng mạnh về cơ sở, góp phần khơi dậy tinh thần trách nhiệm, ý thức cộng đồng và khát vọng cống hiến của các tầng lớp nhân dân.

Ảnh minh họa: qdnd.vn 

Ở nhiều địa phương, tinh thần đoàn kết được thể hiện sinh động qua các phong trào xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, giảm nghèo bền vững, đền ơn đáp nghĩa, bảo vệ môi trường, giữ gìn an ninh trật tự, tham gia chuyển đổi số, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư. Trong những thời điểm khó khăn như thiên tai, dịch bệnh, biến động kinh tế, tinh thần “tương thân tương ái”, “lá lành đùm lá rách”, “không ai bị bỏ lại phía sau” tiếp tục chứng minh sức sống bền bỉ của truyền thống đoàn kết Việt Nam. Đặc biệt, vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các già làng, trưởng bản, chức sắc, chức việc tôn giáo, người có uy tín trong cộng đồng ngày càng được phát huy trong tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Trong công tác đối ngoại, Mặt trận Tổ quốc luôn là cầu nối giữa các tổ chức liên hiệp các tổ chức hữu nghị, hội đồng hương, cộng đồng người Việt ở nước ngoài có nhiều hoạt động khơi dậy tinh thần yêu nước, tình đoàn kết gắn bó, chung sức, đồng lòng hướng tới xây dựng quê hương trên tinh thần hội nhập, phát triển.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc vẫn còn một số hạn chế. Ở một số nơi, việc nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân chưa kịp thời; đối thoại với nhân dân có lúc, có nơi còn hình thức; việc giải quyết kiến nghị, bức xúc từ cơ sở chưa thật sự thấu đáo, dễ làm phát sinh tâm lý hoài nghi, thiếu đồng thuận. Một bộ phận cán bộ, đảng viên còn biểu hiện quan liêu, xa dân, ngại tiếp xúc, ngại đối thoại, thậm chí có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, làm ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân. Trình độ, năng lực, kỹ năng công tác của một bộ phận cán bộ làm công tác mặt trận, các tổ chức chính trị - xã hội còn yếu, thiếu, chưa đáp ứng được nhiệm vụ trong thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Trong đời sống xã hội, sự phân hóa giàu nghèo, chênh lệch phát triển giữa các vùng miền, tác động của mặt trái kinh tế thị trường, những khó khăn về việc làm, thu nhập, nhà ở, giáo dục, y tế cũng đặt ra nhiều vấn đề mới đối với việc củng cố đồng thuận xã hội. Trên không gian mạng, các luồng thông tin xấu độc, tin giả, quan điểm sai trái, thù địch có thể tác động nhanh, rộng, làm nhiễu loạn nhận thức, kích động tâm lý bất mãn, khoét sâu những vụ việc phức tạp, từ đó gây chia rẽ giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, chia rẽ giữa các tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, vùng miền.

Nguyên nhân của những hạn chế trên có cả khách quan và chủ quan. Về khách quan, bối cảnh thế giới, khu vực diễn biến nhanh, phức tạp; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột, khủng hoảng kinh tế, biến đổi khí hậu, dịch bệnh, an ninh phi truyền thống tác động trực tiếp đến đời sống nhân dân. Sự phát triển của internet, mạng xã hội và công nghệ số mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng tạo môi trường để thông tin sai lệch, luận điệu xuyên tạc lan truyền nhanh chóng. Về chủ quan, một số cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị chưa nhận thức đầy đủ vị trí, vai trò của công tác dân vận, công tác Mặt trận; phương thức tuyên truyền, vận động có nơi chậm đổi mới; việc cụ thể hóa chủ trương đại đoàn kết thành cơ chế, chính sách, mô hình thiết thực chưa đồng đều; công tác kiểm tra, giám sát, phản biện xã hội có lúc chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Từ thực tiễn đó có thể khẳng định, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong kỷ nguyên mới phải bắt đầu từ việc củng cố niềm tin của nhân dân, chăm lo lợi ích chính đáng của nhân dân, mở rộng dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ cương, tăng cường đồng thuận xã hội đi đôi với đấu tranh kiên quyết trước những biểu hiện chia rẽ, phá hoại. Đại đoàn kết không chỉ là di sản của quá khứ, mà còn là điều kiện sống còn để đất nước vững vàng trước mọi thách thức, tận dụng thời cơ phát triển và hiện thực hóa khát vọng Việt Nam hùng cường, thịnh vượng.

Nhận diện những âm mưu, luận điệu chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Trong kỷ nguyên mới, khi đất nước đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng, chuyển đổi số và sắp xếp lại tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc càng trở thành nhân tố có ý nghĩa quyết định. Chính vì vậy, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị luôn tìm mọi cách chống phá, trong đó một hướng trọng điểm là xuyên tạc, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chúng hiểu rằng, khi lòng dân bị phân tán, niềm tin bị xói mòn, sự đồng thuận xã hội bị suy giảm thì sức mạnh của đất nước sẽ bị ảnh hưởng. Do đó, âm mưu chia rẽ đoàn kết không chỉ là thủ đoạn tuyên truyền đơn lẻ, mà là một bộ phận trong chiến lược chống phá lâu dài, thâm độc.

Trước hết, các thế lực thù địch thường tìm cách tác động từ bên ngoài vào hệ thống chính trị, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Chúng lợi dụng những vấn đề nhạy cảm như dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, chủ quyền lãnh thổ, phòng, chống tham nhũng, cải cách bộ máy, chính sách đất đai, an sinh xã hội để bóp méo bản chất sự việc. Một vụ việc cụ thể, một hạn chế trong tổ chức thực hiện ở cơ sở, một khó khăn nhất thời của đời sống nhân dân có thể bị chúng cắt ghép, thổi phồng, quy kết thành bản chất của chế độ. Từ đó, chúng gieo rắc nhận thức sai lệch rằng Đảng, Nhà nước không quan tâm đến quyền lợi của nhân dân; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể không đại diện cho nhân dân; các chính sách phát triển chỉ phục vụ một nhóm người. Đây là cách đánh vào niềm tin, làm suy yếu mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.

Một thủ đoạn nguy hiểm khác là kích động chia rẽ giữa các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, vùng miền. Trên không gian mạng, không khó để bắt gặp những thông tin cố tình đối lập người giàu với người nghèo, đô thị với nông thôn, miền xuôi với miền núi, người trong nước với người Việt Nam ở nước ngoài, người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo. Những luận điệu này thường được ngụy trang dưới vỏ bọc “phản biện”, “đòi công bằng”, “bảo vệ nhóm yếu thế”, nhưng thực chất là khoét sâu khác biệt, làm lu mờ điểm tương đồng, phá vỡ nền tảng đồng thuận xã hội. Trong khi quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mọi tầng lớp nhân dân, thì các thế lực thù địch lại cố tình dựng lên hình ảnh đối lập, xung đột để gây tâm lý bất mãn, hoài nghi.

Đáng chú ý, âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc còn gắn với việc thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Chúng tìm cách tác động vào một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái, dao động, thiếu bản lĩnh chính trị; lợi dụng những hạn chế, khuyết điểm trong công tác cán bộ, quản lý xã hội, xử lý sai phạm để kích động tâm lý nghi ngờ, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Khi trong nội bộ xuất hiện biểu hiện mất đoàn kết, thiếu gương mẫu, nói không đi đôi với làm, quan liêu, xa dân, thì đó là mảnh đất thuận lợi để các quan điểm sai trái len lỏi, tác động tiêu cực đến niềm tin của nhân dân. Vì vậy, đấu tranh chống âm mưu chia rẽ đại đoàn kết dân tộc phải gắn chặt với xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Trên lĩnh vực tư tưởng, chính trị, lý luận, các thế lực thù địch thường xuyên phủ nhận Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc đường lối đổi mới; phủ nhận thành tựu phát triển của đất nước; hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng; đòi “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” với dụng ý làm thay đổi nền tảng chính trị của chế độ. Chúng tách rời độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, đối lập dân tộc với giai cấp, đối lập Đảng với nhân dân, đối lập Nhà nước với xã hội, từ đó làm lung lay nhận thức của một bộ phận người dân, nhất là thanh niên, công nhân, trí thức trẻ, người thường xuyên tiếp xúc với mạng xã hội nhưng thiếu kỹ năng kiểm chứng thông tin.

Trong bối cảnh chuyển đổi số, không gian mạng trở thành địa bàn chống phá đặc biệt phức tạp. Các thế lực thù địch sử dụng mạng xã hội, nền tảng xuyên biên giới, tài khoản ẩn danh, video ngắn, hình ảnh cắt ghép, tin giả, bình luận dẫn dắt để lan truyền thông tin sai trái với tốc độ nhanh, phạm vi rộng. Chúng không chỉ phát tán nội dung trực tiếp chống phá, mà còn gieo rắc thái độ hoài nghi, mỉa mai, phủ định, làm cho người tiếp nhận dần mất niềm tin vào những giá trị tích cực của đất nước. Nguy hiểm hơn, nhiều thông tin sai trái được trình bày dưới hình thức gần gũi, cảm tính, nửa thật nửa giả nên dễ tác động đến tâm lý đám đông.

Có thể khái quát rằng, âm mưu, luận điệu nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc tuy biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng đều hướng tới mục tiêu chung là làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ; phá vỡ sự đồng thuận xã hội; kích động mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân; cô lập Việt Nam trên trường quốc tế; tiến tới làm suy yếu nền tảng chính trị, tư tưởng và sức mạnh nội sinh của đất nước. Nhận diện rõ những âm mưu, thủ đoạn đó là điều kiện quan trọng để mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân nâng cao cảnh giác, chủ động đấu tranh phản bác, đồng thời củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong kỷ nguyên mới.

Củng cố niềm tin, tăng sức đề kháng, phát huy sức mạnh đoàn kết

Trước những âm mưu, thủ đoạn ngày càng tinh vi nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là nhận diện đúng, phản bác kịp thời, mà quan trọng hơn là phải củng cố từ gốc nền tảng đoàn kết trong nhân dân. Đấu tranh với các luận điệu sai trái, thù địch không thể chỉ dừng ở việc bác bỏ từng thông tin sai lệch, mà phải gắn với xây dựng niềm tin, chăm lo đời sống nhân dân, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và từng cán bộ, đảng viên ở cơ sở.

Trước hết, cần tiếp tục nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị và trách nhiệm hành động của cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân về vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mỗi cán bộ, đảng viên phải hiểu sâu sắc rằng đoàn kết không chỉ là truyền thống quý báu, mà còn là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khi nhận thức đúng, hành động sẽ đúng; khi mỗi người dân hiểu rõ lợi ích của mình gắn bó chặt chẽ với lợi ích của cộng đồng, của quốc gia - dân tộc, họ sẽ có thêm sức đề kháng trước những thông tin sai trái, kích động, chia rẽ.

Cùng với đó, công tác tuyên truyền, vận động nhân dân cần được đổi mới mạnh mẽ, thiết thực và sát cơ sở hơn. Việc tuyên truyền không nên chỉ dừng ở khẩu hiệu, hội nghị, văn bản, mà phải đi vào những vấn đề nhân dân quan tâm: sinh kế, việc làm, giáo dục, y tế, đất đai, môi trường, an sinh xã hội, an ninh trật tự, chuyển đổi số, cải cách hành chính. Ở những địa bàn trọng yếu về quốc phòng, an ninh; vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo; khu vực biên giới, biển đảo; các địa bàn đang chịu tác động mạnh của quá trình sắp xếp đơn vị hành chính, triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, càng cần làm tốt việc thông tin, giải thích, đối thoại, tạo đồng thuận. Khi nhân dân được cung cấp thông tin đầy đủ, được lắng nghe và được tham gia vào quá trình thực hiện chính sách, các luận điệu xuyên tạc sẽ khó có đất tồn tại.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức thành viên cần tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, hướng mạnh về cơ sở, lấy khu dân cư làm địa bàn quan trọng để tập hợp, vận động nhân dân. Các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động cần được cụ thể hóa thành những việc làm thiết thực, phù hợp với từng vùng, từng nhóm đối tượng, từng địa phương. Phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, giảm nghèo bền vững, bảo vệ môi trường, giữ gìn an ninh trật tự, chuyển đổi số cộng đồng, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư... đều có thể trở thành những điểm tựa để củng cố đoàn kết nếu được tổ chức bài bản, có sự tham gia thực chất của nhân dân.

Một nhiệm vụ quan trọng khác là chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác Mặt trận, dân vận, đoàn thể có bản lĩnh chính trị vững vàng, am hiểu thực tiễn, gần dân, trọng dân, có kỹ năng vận động, thuyết phục và xử lý tình huống. Trong bối cảnh mới, cán bộ cơ sở không chỉ cần nắm vững chủ trương, chính sách, pháp luật, mà còn phải có kỹ năng sử dụng công nghệ, kỹ năng truyền thông, kỹ năng đối thoại trên không gian mạng, kỹ năng nhận diện và phản bác thông tin sai trái. Cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức thường xuyên cho đội ngũ này; đồng thời quan tâm bảo vệ, động viên, khen thưởng những cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Để củng cố niềm tin của nhân dân, phải đặc biệt coi trọng công tác kiểm tra, giám sát, phản biện xã hội. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cần phát huy vai trò giám sát từ thôn, bản, tổ dân phố, khu dân cư đến các cấp chính quyền, nhất là trong những lĩnh vực liên quan trực tiếp đến quyền lợi của nhân dân. Việc thực hiện chính sách phải công khai, minh bạch; những kiến nghị, bức xúc chính đáng của người dân phải được tiếp nhận, giải quyết kịp thời. Mỗi vụ việc tồn đọng kéo dài, mỗi biểu hiện quan liêu, thiếu trách nhiệm, mỗi hành vi tham nhũng, tiêu cực nếu không được xử lý nghiêm sẽ trở thành điểm yếu để các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc, kích động.

Bên cạnh đó, cần chủ động xây dựng, phát hiện, nhân rộng các mô hình hay, cách làm sáng tạo trong phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Những mô hình tự quản ở khu dân cư, tổ hòa giải, tổ chuyển đổi số cộng đồng, tổ an ninh nhân dân, câu lạc bộ thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, những điển hình trong đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài hướng về quê hương... cần được tổng kết, biểu dương, lan tỏa. Cách tốt nhất để đẩy lùi thông tin tiêu cực là làm cho những giá trị tích cực, những việc làm tốt, những kết quả thực chất trong đời sống nhân dân được hiện diện nhiều hơn, thuyết phục hơn.

Trong đấu tranh trên không gian mạng, cần xây dựng lực lượng cộng tác viên, tuyên truyền viên, báo cáo viên, chuyên gia, nhà báo, trí thức, văn nghệ sĩ, người có uy tín trong cộng đồng tham gia phản bác các luận điệu sai trái một cách bài bản, khoa học và hiệu quả. Cần có hệ thống cơ sở dữ liệu, kịch bản truyền thông, cơ chế phối hợp, bộ phận tham mưu phản ứng nhanh để phát hiện từ sớm, từ xa những thông tin xấu độc, nhất là các nội dung liên quan đến dân tộc, tôn giáo, biên giới, biển, đảo, sắp xếp tổ chức bộ máy, chính sách xã hội, những vụ việc phức tạp ở cơ sở. Đấu tranh phản bác phải kịp thời nhưng thận trọng, sắc bén nhưng có sức thuyết phục, kiên quyết nhưng không cực đoan; lấy sự thật, lý lẽ, bằng chứng và lợi ích chính đáng của nhân dân làm nền tảng.

Đồng thời, cần tham mưu cho Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp tiếp tục hoàn thiện chủ trương, chính sách nhằm phát huy tổng thể sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Chính sách phải bao quát được các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, trí thức, doanh nhân, công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh, người cao tuổi, người Việt Nam ở nước ngoài; kết nối được sức mạnh từ nông thôn đến đô thị, từ miền núi đến hải đảo, từ không gian thực đến không gian số. Mọi chính sách phát triển nếu đặt nhân dân ở trung tâm, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu, lấy sự đồng thuận của nhân dân làm thước đo thì sẽ góp phần trực tiếp củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Có thể khẳng định, đấu tranh chống các âm mưu, luận điệu chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nhiệm vụ lâu dài, thường xuyên, vừa cấp bách vừa chiến lược. Trong kỷ nguyên mới, càng phát triển, càng hội nhập, càng đổi mới mạnh mẽ, chúng ta càng phải giữ vững nền tảng đoàn kết, củng cố niềm tin, tăng cường đồng thuận xã hội. Khi ý Đảng hợp với lòng dân, khi mỗi người dân đều thấy mình là chủ thể của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mọi âm mưu chia rẽ đều sẽ bị đẩy lùi. Đại đoàn kết toàn dân tộc vì thế không chỉ là cội nguồn sức mạnh của quá khứ, mà còn là động lực quyết định để Việt Nam vững bước tiến vào tương lai, xây dựng đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.