Khát vọng “dân giàu, nước mạnh”
Chủ tịch Hồ Chí Minh không trực tiếp sử dụng khái niệm “kinh tế thị trường định hướng XHCN” trong các bài viết hay bài nói chuyện của mình, nhưng trong toàn bộ di sản tư tưởng của Người đã hàm chứa đầy đủ và trọn vẹn những tiền đề lý luận cốt lõi cho mô hình này. Đó là tư tưởng lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu tối thượng, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và tôn trọng các quy luật khách quan. Đây chính là nền tảng tư tưởng quan trọng để Đảng ta vận dụng, phát triển thành lý luận kinh tế thị trường định hướng XHCN trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH).
Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, cụm từ “Bao giờ Nam Bắc một nhà / Dân giàu nước mạnh thì ta vui lòng” (1) không đơn thuần là một mục tiêu kinh tế mang tính định lượng, mà mang ý nghĩa sâu xa hơn: Đó là thành quả tất yếu của chế độ XHCN. Để hiện thực hóa khát vọng này, Người luôn khẳng định sự gắn kết hữu cơ, không thể tách rời giữa độc lập dân tộc và CNXH. Theo Người, nếu độc lập dân tộc là môi trường, là điều kiện tiên quyết, thì CNXH chính là con đường duy nhất dẫn đến sự phồn vinh thực sự cho đất nước. Người nói: “Kết quả là kháng chiến sẽ thắng lợi gấp đôi, kiến quốc sẽ thành công gấp đôi. Kết quả là dân giàu nước mạnh” (2). Điều này hoàn toàn thống nhất với lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin về mục tiêu kinh tế của CNXH: Giải phóng sức sản xuất và thiết lập chế độ công hữu để thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần ngày càng tăng của mọi thành viên trong xã hội. Đây là sự khác biệt về bản chất so với xã hội tư bản - nơi sự tăng trưởng kinh tế thường đi kèm với áp bức, bất công và lợi nhuận chủ yếu chảy vào túi một bộ phận giai cấp tư sản.
 |
Bác Hồ thăm nông dân Hợp tác xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, gặt mùa năm 1954. Ảnh tư liệu
|
Điểm sáng tạo đặc biệt và vượt tầm thời đại của Hồ Chí Minh là Người đã đặt khát vọng “dân giàu, nước mạnh” làm hạt nhân trung tâm để định hình một mô hình kinh tế mới, nơi sự phát triển bắt buộc phải song hành cùng chính sách vì con người. Với Người, “dân giàu” không chỉ là sự tích lũy vật chất cho cá nhân, mà là lấy nhân dân làm trung tâm, xem nhân dân vừa là mục tiêu tối thượng, vừa là động lực bứt phá. Lực lượng sản xuất chỉ có thể được giải phóng triệt để khi nhân dân có được độc lập, tự do, được trang bị nền tảng đạo đức cách mạng và được ứng dụng rộng rãi khoa học - kỹ thuật để phụng sự Tổ quốc. Quan điểm này là sự vận dụng thiên tài quy luật về vai trò quyết định của lực lượng sản xuất trong việc gia tăng hạnh phúc, ấm no cho người lao động.
Tương ứng với tiêu chí đó, “nước mạnh” trong tư duy Hồ Chí Minh là một chỉnh thể đa chiều và toàn diện: Mạnh về kinh tế để tự chủ, mạnh về chính trị để ổn định, mạnh về văn hóa để làm nền tảng và mạnh về quốc phòng an ninh để bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng. Một quốc gia mạnh là nơi Nhà nước biết sử dụng linh hoạt các công cụ vĩ mô để điều tiết, bảo đảm nền kinh tế vận hành theo đúng quy luật khách quan nhưng vẫn giữ vững định hướng XHCN, tuyệt đối không để thị trường trở thành một thực thể tự phát và hỗn loạn. Ở đó, kinh tế nhiều thành phần được khơi thông nguồn lực, tạo sự cộng hưởng to lớn để thực hiện mục tiêu tăng trưởng luôn đi đôi với công bằng và tiến bộ xã hội.
Tư duy thực tiễn về nền kinh tế nhiều thành phần và sự tôn trọng quy luật khách quan
Một trong những giá trị nổi bật nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế là việc xác lập mô hình đa hình thức sở hữu và đa thành phần kinh tế. Đây hoàn toàn không phải là sự lựa chọn mang tính tình thế, mà là kết quả tất yếu của sự vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp với việc nắm chắc đặc điểm của một quốc gia nông nghiệp lạc hậu, nơi lực lượng sản xuất còn ở trình độ thấp và manh mún. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận diện chính xác rằng: Sự tồn tại khách quan của nhiều trình độ kinh tế đòi hỏi một cấu trúc sở hữu với các thành phần kinh tế tương ứng, đa dạng để khơi thông mọi nguồn lực dân tộc. Người yêu cầu xây dựng các thành phần kinh tế: Kinh tế quốc doanh; các hợp tác xã; kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ; tư bản của tư nhân; tư bản của Nhà nước (3).
Quan điểm này mang tầm vóc lý luận thời đại. Bởi lẽ, nếu CNXH là mục tiêu tối hậu, thì phương thức đi tới đó phải phục tùng quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thẳng thắn bác bỏ tư duy giáo điều vốn đồng nhất CNXH với việc phủ định sạch trơn sở hữu tư nhân. Người vận dụng phép biện chứng duy vật để khẳng định rằng, chúng ta phải biết sử dụng các hình thức kinh tế trung gian, quá độ như kinh tế cá thể, tư bản tư nhân và tư bản nhà nước, đặt chúng trong chỉnh thể “kinh tế dân chủ mới” để tạo đà cho sự bứt phá của sản xuất hàng hóa. Tư tưởng đó hoàn toàn đúng với tinh thần Chính sách kinh tế mới (NEP) của Lênin.
 |
| Bác Hồ về thăm Khu gang thép Thái Nguyên năm 1964. Ảnh tư liệu |
Sự đa dạng về cấu trúc sở hữu trong tư tưởng Hồ Chí Minh tất yếu dẫn đến yêu cầu khách quan về một phương thức vận hành tương ứng: Nền kinh tế phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy luật thị trường. Người quyết liệt phê phán việc áp đặt ý chí chủ quan, nhấn mạnh rằng sự phát triển lực lượng sản xuất phải dựa trên việc tôn trọng quy luật giá trị, cung cầu và cạnh tranh. Đây chính là “chìa khóa” để kích hoạt tính năng động của các chủ thể kinh tế, giải phóng sức sản xuất và bảo đảm lợi ích thực tế cho nhân dân.
Tuy nhiên, tính định hướng XHCN trong tư duy của Người luôn được bảo đảm vững chắc bằng vai trò của kinh tế quốc doanh - kinh tế nhà nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định đây là “nền tảng và sức lãnh đạo của kinh tế dân chủ mới” (4), đóng vai trò chủ đạo và là công cụ điều tiết quan trọng, dẫn dắt và hỗ trợ các thành phần khác. Kinh tế nhà nước không lấn át để triệt tiêu động lực, mà là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô, ngăn chặn sự phát triển tự phát, hỗn loạn của thị trường, giữ cho nền kinh tế luôn vận hành hiệu quả và đúng quỹ đạo chính trị. Đặc biệt, tư duy của Người rất cởi mở khi khẳng định các thành phần kinh tế ngoài nhà nước không phải đối tượng bị tiêu diệt bằng mệnh lệnh duy ý chí, mà là nguồn lực cần được khuyến khích và cải tạo từng bước. Quan điểm “công tư đều lợi”, “chủ thợ đều lợi” (5) chính là điểm kết tinh của sự đoàn kết các lực lượng sản xuất, miễn là có lợi cho quốc kế dân sinh.
Một tiền đề quan trọng khác trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sự nhìn nhận đúng đắn về lợi ích. Người không phủ nhận lợi ích vật chất chính đáng của con người, mà nhận thức sâu sắc rằng, lợi ích là một động lực quan trọng của lao động, sản xuất và sáng tạo. Xây dựng xã hội mới không thể bằng sự hô hào chung chung, càng không thể bằng bình quân cào bằng, triệt tiêu động lực phấn đấu. Người khẳng định: “Bình quân chủ nghĩa là trái chủ nghĩa xã hội, thế là không đúng” (6). Phê phán chủ nghĩa bình quân vì nó trái với tinh thần công bằng thật sự và làm suy yếu năng suất lao động, Người nhấn mạnh: “Lao động nhiều thì được phân phối nhiều, lao động ít thì được phân phối ít. Lao động khó thì được phân phối nhiều, lao động dễ thì được phân phối ít” (7). Tư tưởng ấy rất gần với một nguyên tắc căn bản của kinh tế thị trường hiện đại: Phân phối phải gắn với lao động, hiệu quả và đóng góp. Nhưng khác với thị trường tư bản chủ nghĩa, nơi lợi ích cá nhân có thể bị đẩy tới cực đoan, làm nảy sinh bóc lột, phân hóa và bất công, tư tưởng Hồ Chí Minh đặt lợi ích cá nhân trong quan hệ hài hòa với lợi ích tập thể, lợi ích xã hội và lợi ích dân tộc.
Kiên quyết phản bác, đập tan những luận điệu xuyên tạc
Dù lý luận kinh tế thị trường định hướng XHCN là thành tựu tiêu biểu của Đảng ta, thế nhưng các thế lực thù địch vẫn cố tình xuyên tạc rằng kinh tế thị trường và định hướng XHCN là hai phạm trù “đối lập”. Chúng rêu rao rằng phát triển thị trường là “từ bỏ lý tưởng”, còn định hướng XHCN là “kìm hãm phát triển”. Những luận điệu ấy sai về lý luận, trái với thực tiễn và bộc lộ rõ mưu đồ phủ nhận mô hình kinh tế thị trường ở Việt Nam.
Một thủ đoạn quen thuộc của các luận điệu chống phá là đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản. Từ sự đồng nhất sai trái ấy, chúng cho rằng đã phát triển kinh tế thị trường thì phải chấp nhận con đường tư bản chủ nghĩa; còn nếu giữ định hướng XHCN thì không thể có kinh tế thị trường đúng nghĩa. Đây là cách lập luận phiến diện, cố tình đánh tráo khái niệm.
Về lý luận, kinh tế thị trường là một trình độ phát triển của kinh tế hàng hóa, gắn với phân công lao động xã hội, trao đổi hàng hóa, cạnh tranh, giá cả, cung cầu và các hình thức sở hữu khác nhau. Nó hoàn toàn không phải sản phẩm riêng có của một chế độ chính trị duy nhất. Chủ nghĩa tư bản đã sử dụng kinh tế thị trường để phát triển lực lượng sản xuất, nhưng đồng thời cũng làm bộc lộ những mặt trái rất nghiêm trọng: Phân hóa giàu nghèo, khủng hoảng chu kỳ, độc quyền, tha hóa lao động, đặt lợi nhuận lên trên con người. CNXH, trong thời kỳ quá độ, hoàn toàn có thể và cần thiết sử dụng kinh tế thị trường như một công cụ, một phương thức vận hành để phát triển lực lượng sản xuất, nhưng đặt dưới sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và mục tiêu vì con người.
 |
| Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là “chìa khóa vàng” để đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới. Ảnh: baochinhphu.vn |
Chủ tịch Hồ Chí Minh không tiếp cận kinh tế theo lối giáo điều. Người không phủ nhận trao đổi hàng hóa, lưu thông, lợi ích, hạch toán, cạnh tranh về chất lượng và giá cả. Người nhấn mạnh sản xuất phải thiết thực, phải nhiều, nhanh, tốt, rẻ; hàng hóa làm ra phải đáp ứng nhu cầu của nhân dân, với tinh thần “Người ta cần thứ gì, bán thứ đó” (8); tiết kiệm vốn, sức lao động, nguyên liệu, thời gian; chống lãng phí, chống quan liêu. Những tư tưởng ấy cho thấy Người hiểu sâu sắc vai trò của quy luật khách quan trong sản xuất và lưu thông. Nhưng đồng thời, Người luôn đặt kinh tế trong quỹ đạo chính trị của một Nhà nước vì dân, do dân, của dân.
Vì vậy, kinh tế thị trường định hướng XHCN không phải là sự khiên cưỡng kiểu “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, mà là sự kết hợp biện chứng giữa quy luật thị trường và mục tiêu XHCN. Thị trường giúp phân bổ nguồn lực linh hoạt, kích thích sáng tạo, nâng cao năng suất, thúc đẩy cạnh tranh. Trong khi đó, định hướng XHCN bảo đảm thị trường không vận hành tự phát, không biến thành công cụ làm giàu vô hạn độ cho thiểu số, không hy sinh công bằng xã hội, chủ quyền quốc gia, bản sắc văn hóa và an ninh con người.
Một hướng xuyên tạc khác của các thế lực thù địch là phủ nhận vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, cổ xúy tư nhân hóa cực đoan, coi Nhà nước càng rút khỏi kinh tế càng tốt. Họ cố tình quy mọi hạn chế, yếu kém của một số doanh nghiệp nhà nước thành bản chất của kinh tế nhà nước, từ đó đòi xóa bỏ vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế này. Cách nhìn ấy không khách quan và che giấu mục tiêu làm suy yếu công cụ vật chất để Nhà nước giữ ổn định vĩ mô, bảo đảm an ninh kinh tế, định hướng phát triển và thực hiện chính sách xã hội.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, kinh tế quốc doanh có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế dân chủ mới. Vai trò ấy không phải để bao cấp, áp đặt hay triệt tiêu các thành phần kinh tế khác, mà để nắm những lĩnh vực then chốt, tạo nền tảng vật chất cho chế độ mới, dẫn dắt nền kinh tế đi đúng hướng. Đảng ta kế thừa và phát triển tư tưởng đó khi xác định: “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” (9); kinh tế nhà nước cùng kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân; “trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia” (10).
Cần hiểu đúng vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước: Chủ đạo không đồng nghĩa với việc bao biện, làm thay thị trường hay lấn át các thành phần kinh tế khác. Chủ đạo là nắm giữ những vị trí then chốt liên quan đến ổn định kinh tế vĩ mô, an ninh năng lượng, tài chính, kết cấu hạ tầng chiến lược, quốc phòng, an ninh và những lĩnh vực mà khu vực tư nhân không thể hoặc không muốn đầu tư do lợi nhuận thấp, rủi ro cao, thời gian thu hồi vốn dài. Trong những thời điểm khủng hoảng, thiên tai, dịch bệnh, biến động giá cả quốc tế, vai trò điều tiết của Nhà nước và năng lực vật chất của kinh tế nhà nước càng trở nên không thể thay thế.
Khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là tiền đề quan trọng của mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN cũng chính là khẳng định bản lĩnh, trí tuệ và sự sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là cơ sở để chúng ta kiên định con đường đã chọn, chủ động phản bác mọi luận điệu xuyên tạc, bảo vệ thành quả cách mạng và đưa đất nước tiến lên con đường phát triển bền vững.
--------------------------------
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
(1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 14, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.341.
(2) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.407.
(3) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.266.
(4), (5) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.267.
(6) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.216.
(7) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.583.
(8) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.470.
(9) Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước
(10) Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân
(còn nữa)