Khẳng định vai trò của kinh tế tư nhân

Thực tiễn cho thấy, sau mỗi bước đổi mới mạnh mẽ về chính sách đối với kinh tế tư nhân, các luận điệu chống phá lại rêu rao rằng Việt Nam đang “tư bản hóa”, đang “rời xa chủ nghĩa xã hội (CNXH)”. Đây là một thủ đoạn tuy cũ nhưng vô cùng nguy hiểm, bởi nó cố tình gieo rắc sự hoài nghi, bất mãn về đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng ta.

Việc phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là sự vận dụng đúng đắn, khoa học quy luật phát triển lực lượng sản xuất. Khu vực kinh tế tư nhân hiện nay chính là nơi tập trung mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp, năng lực sáng tạo, sự linh hoạt, khả năng huy động vốn xã hội, tạo việc làm và đóng góp to lớn cho tăng trưởng kinh tế chung. Đó cũng là tinh thần được khẳng định trong Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Nói cách khác, không phát huy kinh tế tư nhân tức là tự hạn chế một nguồn lực to lớn trong nhân dân. Theo thống kê, kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 50% GDP trong suốt giai đoạn 2016-2023 và đến năm 2025 đóng góp 51% GDP (1).

Ảnh minh họa: thuvienphapluat.vn 

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng từng rất coi trọng việc động viên các tầng lớp công thương, trí thức, nhà sản xuất, nhà buôn yêu nước tham gia vào công cuộc kiến thiết quốc gia. Người không hề nhìn họ bằng ánh mắt định kiến hẹp hòi, mà luôn đặt họ trong khối đại đoàn kết dân tộc, miễn là mọi hoạt động của họ đều ích nước, lợi dân.

Điểm khác biệt căn bản nhất là kinh tế tư nhân ở Việt Nam phát triển trong khuôn khổ của Nhà nước pháp quyền XHCN, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng, gắn bó mật thiết với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đảng ta xác định: “Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, kiến tạo của Nhà nước, lấy doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể” (2). Kinh tế tư nhân được khuyến khích làm giàu hợp pháp, cạnh tranh bình đẳng, đổi mới sáng tạo, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu; nhưng đồng thời bắt buộc phải tuân thủ pháp luật, thực hiện nghiêm nghĩa vụ thuế, bảo vệ môi trường, chăm lo đời sống người lao động, tôn trọng lợi ích quốc gia, dân tộc. Quá trình đó hoàn toàn không phải là sự tư bản hóa, mà chính xác là quá trình xã hội hóa nguồn lực phát triển trong định hướng XHCN.

Cũng cần nhận thức sâu sắc rằng, trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay, nếu đất nước không có một đội ngũ doanh nghiệp tư nhân đủ mạnh, không có những doanh nhân dân tộc mang trong mình khát vọng lớn lao, Việt Nam sẽ rất khó có thể nâng cao năng lực cạnh tranh, xây dựng thương hiệu quốc gia và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Vì vậy, sự phát triển của kinh tế tư nhân không hề mâu thuẫn với vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước; trái lại, hai khu vực này cần bổ sung, hỗ trợ, cộng hưởng với nhau để tạo thành một cấu trúc kinh tế thống nhất, bền vững. 

Kinh tế nhà nước giữ những vị trí then chốt, đóng vai trò mở đường, dẫn dắt; trong khi đó, kinh tế tư nhân phát huy tối đa tính năng động, sáng tạo; kinh tế tập thể, hợp tác xã tiến hành tổ chức lại sản xuất, nhất là ở khu vực nông nghiệp, nông thôn; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài mang vai trò bổ sung vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản trị và thị trường quốc tế. Do đó, những luận điệu cho rằng “phát triển kinh tế tư nhân là từ bỏ CNXH” là hoàn toàn sai trái.

Tuy nhiên, cũng sẽ sai trái không kém nếu chúng ta phát triển kinh tế tư nhân mà lại buông lỏng quản lý, vô tình để hình thành nên chủ nghĩa tư bản thân hữu, tạo ra các nhóm lợi ích thao túng chính sách và độc quyền nền kinh tế. Định hướng XHCN đòi hỏi một môi trường phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh, văn minh, có trách nhiệm xã hội, nơi lợi ích của doanh nghiệp phải gắn liền với lợi ích của đất nước.

Động lực cốt lõi để bứt phá

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng tri thức, kỹ thuật, năng suất lao động và tinh thần không ngừng học hỏi cái mới. Người khẳng định: “Muốn lương thực dồi dào thì phải vừa nhiều lúa, vừa nhiều hoa màu. Phải mạnh dạn tiến vào khoa học kỹ thuật nông nghiệp” (3). Người căn dặn đội ngũ cán bộ lãnh đạo kinh tế phải hiểu kinh tế, hiểu kỹ thuật, kiên quyết chống lối lãnh đạo chung chung, mệnh lệnh, quan liêu. Tư tưởng sâu sắc ấy đến nay vẫn còn nguyên giá trị thực tiễn.

Trong thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, quốc gia nào làm chủ được KHCN, làm chủ dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ số, năng lượng mới, vật liệu mới, công nghệ sinh học và công nghiệp quốc phòng hiện đại, thì quốc gia đó sẽ nắm giữ lợi thế chiến lược. Ngược lại, sự tụt hậu về công nghệ không chỉ đơn thuần là sự tụt hậu về kinh tế, mà nghiêm trọng hơn là nguy cơ bị gạt ra khỏi dòng chảy văn minh nhân loại, ảnh hưởng trực tiếp đến sự độc lập và tự chủ chiến lược của quốc gia.

Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất Hội Phổ biến khoa học và kỹ thuật Việt Nam (tiền thân của Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam) ngày 18-5-1963. Ảnh tư liệu

Kinh tế thị trường định hướng XHCN trong kỷ nguyên mới tuyệt đối không thể tiếp tục dựa vào lợi thế lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên cạn kiệt hay duy trì mô hình tăng trưởng theo chiều rộng. Mô hình phát triển phải chuyển đổi mạnh mẽ sang dựa trên năng suất, chất lượng, hiệu quả, sự đổi mới sáng tạo và giá trị gia tăng cao. Đây không chỉ là yêu cầu khách quan của quy luật phát triển lực lượng sản xuất, mà còn là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phục vụ nhân dân.

Trong bối cảnh hiện nay, KHCN không thể chỉ được coi là một ngành hay một lĩnh vực đơn lẻ, mà phải thực sự trở thành động lực trung tâm của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Thực hiện tư tưởng của Người, Đảng ta xác định: Phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế-xã hội (4). Quá trình chuyển đổi số phải đi sâu vào quản trị quốc gia, vào hệ thống sản xuất công nghiệp, nông nghiệp thông minh, tài chính, giáo dục, y tế, báo chí, quốc phòng và an ninh. Đổi mới sáng tạo phải trở thành phẩm chất tự thân của mỗi doanh nghiệp, mỗi cán bộ, người lao động và toàn hệ thống chính trị. Để đạt được điều này, Nhà nước phải đóng vai trò kiến tạo thể chế nhằm khuyến khích sáng tạo, bảo vệ nghiêm ngặt quyền sở hữu trí tuệ, thúc đẩy sự hình thành thị trường KHCN, phát triển hệ thống hạ tầng số, dữ liệu số, nhân lực số, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp đầu tư mạnh mẽ cho nghiên cứu và phát triển.

Đáng chú ý, đây cũng chính là lĩnh vực mà các thế lực thù địch thường xuyên nhắm tới để xuyên tạc. Khi Việt Nam mạnh dạn đặt mục tiêu phát triển công nghệ cao, họ cố tình chế giễu đó là “ảo tưởng”; khi Việt Nam quyết liệt thúc đẩy chuyển đổi số, họ lại xuyên tạc đó là hành vi “kiểm soát xã hội”; khi các doanh nghiệp Việt Nam tự tin vươn ra thế giới, họ tìm mọi thủ đoạn để hạ thấp thành tựu. Thực chất đằng sau những luận điệu này là âm mưu không muốn Việt Nam xây dựng được năng lực tự chủ chiến lược. Vì vậy, cuộc đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái ấy phải đi liền với những hành động thực tế và hiệu quả: Xây dựng một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo mạnh mẽ, phát triển các doanh nghiệp công nghệ mang thương hiệu Việt Nam, làm chủ một số công nghệ lõi quan trọng, gắn kết chặt chẽ KHCN với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, và bảo vệ vững chắc chủ quyền số quốc gia.

Hoàn thiện thể chế và phát huy tổng hợp mọi nguồn lực

Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, thể chế giữ một vai trò đặc biệt quan trọng. Một hệ thống thể chế đúng đắn sẽ giải phóng sức sản xuất, tạo dựng niềm tin, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân cùng doanh nghiệp, đồng thời giữ vững kỷ cương, kỷ luật và định hướng phát triển chung. Ngược lại, một hệ thống thể chế lạc hậu, chồng chéo, thiếu minh bạch sẽ lập tức trở thành điểm nghẽn, làm nảy sinh cơ chế xin - cho tiêu cực, làm chậm quá trình đổi mới sáng tạo và gây lãng phí nghiêm trọng nguồn lực xã hội.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về việc xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân chính là nền tảng cốt lõi để xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN trong quản lý kinh tế. Người nói “kinh tế quốc doanh là hình thức sở hữu của toàn dân, nó lãnh đạo nền kinh tế quốc dân và Nhà nước phải đảm bảo cho nó phát triển ưu tiên” (5). Một Nhà nước kiến tạo phát triển là Nhà nước không làm thay thị trường, nhưng tuyệt đối không buông lỏng để thị trường tự phát. Nhà nước phải đóng vai trò tạo lập luật chơi minh bạch, bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh, kiểm soát chặt chẽ độc quyền, phòng chống tham nhũng, lãng phí, đặc biệt là bảo vệ người yếu thế, bảo đảm an sinh xã hội và giữ vững ổn định vĩ mô. Nhà nước quản trị bằng sức mạnh của pháp luật thay vì can thiệp bằng các mệnh lệnh hành chính tùy tiện vào hoạt động kinh doanh.

 Kinh tế nhà nước là nền tảng của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ảnh: vtv.vn

Việc hoàn thiện thể chế trong kỷ nguyên mới với chủ trương “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, tạo đột phá để sớm hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” (6), trước hết là phải hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tất cả các loại thị trường, từ thị trường hàng hóa, dịch vụ, lao động, vốn, bất động sản, cho đến thị trường KHCN, dữ liệu và tài sản trí tuệ, đều phải được định hướng phát triển một cách lành mạnh, minh bạch và có kiểm soát. Quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh hợp pháp và quyền tiếp cận nguồn lực phải được bảo đảm công bằng. Đồng thời, hệ thống pháp luật phải kiên quyết xử lý các hành vi thao túng thị trường, lợi ích nhóm, trốn thuế, chuyển giá, phá hoại môi trường hay làm giàu bất chính. Điểm cốt lõi nhất của thể chế là phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội: Thị trường là công cụ phân bổ nguồn lực; Nhà nước định hướng, điều tiết; Xã hội tham gia giám sát, phản biện. Khi ba yếu tố này vận hành hài hòa dưới sự lãnh đạo của Đảng, nền kinh tế sẽ có sức bật vô cùng mạnh mẽ mà không chệch hướng.

Cuối cùng, muốn hiện thực hóa khát vọng hùng cường, Việt Nam phải phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi nguồn lực: Nguồn lực Nhà nước, tư nhân, nhân dân, KHCN, văn hóa, con người và nguồn lực quốc tế. Đây là sự tiếp nối trực tiếp và sống động tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc trong xây dựng kinh tế - tập hợp mọi lực lượng yêu nước, mọi người có tài, có của, có sức, có sáng kiến để phụng sự Tổ quốc.

Con đường đúng đắn nhất chính là vận dụng phép biện chứng vào phát triển thị trường để giải phóng sức sản xuất; sử dụng Nhà nước pháp quyền XHCN để định hướng, điều tiết; lấy văn hóa, đạo đức, con người làm nền tảng; lấy độc lập dân tộc gắn liền với CNXH làm mục tiêu; và lấy hạnh phúc của nhân dân làm thước đo cao nhất. Kiên định tư tưởng Hồ Chí Minh chính là việc giữ vững “ngọn hải đăng” rọi sáng, để con tàu Việt Nam hiên ngang vượt qua sóng lớn, bứt phá, thực hiện thắng lợi khát vọng xây dựng một quốc gia dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh trong kỷ nguyên mới. 

---------------------------------

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2026, tr.108

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân

(3) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 14, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.492.

(4) Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

(5) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.373.

(6) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2026, tr.87.