Chúng tôi đến thăm Anh hùng LLVT nhân dân Đoàn Minh Nguyệt, nguyên Chiến sĩ lái xe thuộc Đại đội 3, Cục Hậu cần Quân khu 4 (nay là Lữ đoàn Vận tải 654, Cục Hậu cần - Kỹ thuật Quân khu 4) ở xóm 9, phường Vinh Lộc (tỉnh Nghệ An). Ở tuổi xưa nay hiếm, trông ông vẫn khỏe mạnh, minh mẫn. Hơn 60 năm trôi qua, những ký ức về năm tháng chiến đấu trên tuyến đường Trường Sơn huyền thoại để vận chuyển hàng hóa vào chiến trường miền Nam qua nước bạn Lào trong ông vẫn còn nguyên vẹn.

Trong câu chuyện với chúng tôi, cuộc đời Anh hùng LLVT nhân dân Đoàn Minh Nguyệt như một thước phim tư liệu. Anh hùng Đoàn Minh Nguyệt sinh năm 1932, quê ở Kim Động, Hưng Yên. Những tưởng anh thanh niên Đoàn Minh Nguyệt đã yên phận với công việc của một công nhân viên Viện thiết kế thủy lợi, nhưng năm 1963, khi cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn ác liệt, anh khai hạ tuổi để đủ tiêu chuẩn đi bộ đội. Sau một thời gian biên chế vào Trung đoàn 36, Sư đoàn 308, năm 1965, chiến sĩ Đoàn Minh Nguyệt chuyển công tác sang Cục Hậu cần Quân khu 4 với nhiệm vụ vận tải hàng hóa, vũ khí, lương thực từ hậu phương miền Bắc vào tiền tuyến lớn miền Nam thông qua nước bạn Lào.

Từ năm 1965, đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc ngày càng ác liệt. Trong đó, địa bàn Quân khu 4 trở thành khu vực trọng điểm đánh phá của đế quốc Mỹ. Vùng đất Vĩnh Linh, Quảng Bình, Hà Tĩnh và nhiều địa phương khác trở thành “tọa độ lửa”. Riêng Ngã ba Đồng Lộc, điểm giao nhau của con đường vận tải 15A-70A, Tỉnh lộ 2 đã trở thành điểm nút giao thông chiến lược. Tại những cung đường này, máy bay Mỹ đã tập trung đánh phá quyết liệt với hơn 18.631 lần chiếc và 62.436 quả bom các loại. Nêu cao ý chí quyết thắng, vượt qua mọi khó khăn ác liệt, cán bộ, chiến sĩ các đơn vị thuộc Cục Hậu cần Quân khu 4, trong đó có đơn vị vận tải của Đoàn Minh Nguyệt đã nhanh chóng xây dựng, phát triển lực lượng, tạo nên thế trận hậu cần liên hoàn vững chắc với những phương thức bảo đảm hậu cần linh hoạt, sáng tạo... trong đó việc vận chuyển hậu cần trên đất nước bạn Lào là một nét độc đáo.

 Anh hùng LLVT nhân dân Đoàn Minh Nguyệt.

Tháng 1-1965, Đoàn Minh Nguyệt được điều vào “tuyến lửa” Quân khu 4 và được biên chế về Cục Hậu cần Quân khu 4. Đến tháng 4-1965, lần đầu tiên ông được giao nhiệm vụ chuyển hàng hóa vào miền Nam trên tuyến đường Trường Sơn thông qua nước bạn Lào. Cung đường mà Đoàn Minh Nguyệt đảm nhận là từ ngã ba Khe Ve (Quảng Bình) qua các tỉnh Khammuan - Savannakhet - Attapeu (Lào) để tập kết hàng hóa trước khi được vận chuyển vào miền Nam. Thời điểm này, tuyến đường Tây Trường Sơn lầy lội bởi những cơn mưa rừng xối xả, phía trên máy bay Mỹ quần đảo liên hồi nhằm chặn đứng các chuyến xe tiếp tế vào Nam. Vì thế, mỗi lần đi qua cung đường này, các tài xế phải dồn trí tuệ, bản lĩnh, kỹ năng lái xe tìm mọi cách đưa hàng hóa đến nơi an toàn. “Hôm đó, chiếc xe Gaz 63 do tôi lái chạy qua ngầm Xuyên Phan (tỉnh Savannakhet, Lào), tôi không may trúng bom, máu chảy khắp người, ướt đẫm cả lưng áo, nhưng vẫn cố gắng lái xe đến trạm gần nhất hòng cứu xe, cứu hàng. Đến khi tỉnh dậy mới biết xe vẫn còn, riêng tôi bị 32 mảnh bom găm khắp cơ thể và được chuyển về tuyến sau điều trị”, ông Nguyệt nhớ lại.

Sau hơn 1 tháng điều trị, dù chưa hoàn toàn bình phục nhưng nhớ xe, nhớ đường, ông xin ra viện và nhận xe đi Lào. Chuyến đi này đúng vào cao điểm mùa mưa. Sau khi giao hàng xong, nước ngập hết đường, xe bị ách lại, phải nằm ở Khammuan cả tháng trời. “Đói, đói khủng khiếp nhưng 4 anh em (2 người 1 xe, lái chính và lái phụ) nhất quyết không chịu bỏ xe lại. Ăn măng, rau rừng, cái đói vẫn bám riết, chúng tôi quyết định vượt lũ hơn 50 cây số về khu vực sát biên giới xin gạo tiếp tế. Số gạo xin được ăn dè xẻn trong 2 tháng trời, đợi nước rút mới về đơn vị được. Cánh lái xe là vậy, cơm có thể không có, nước không thể không uống nhưng xe thì nhất định không thể bỏ được”, ông Nguyệt nhớ lại.

Không ngại gian khổ, hy sinh, lái xe trên tuyến đường Trường Sơn huyền thoại, từ năm 1965 đến năm 1968, ông cùng đồng đội đã vận chuyển trên 600 chuyến hàng, hơn 1.000 tấn vũ khí, lương thực và đưa hàng nghìn chiến sĩ vào chiến trường với chiều dài trên 95.000km... Với những thành tích trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, tháng 8-1968, Đoàn Minh Nguyệt vinh dự được đại diện cho ngành Lái xe quân sự của lực lượng vũ trang Quân khu 4 ra Hà Nội báo cáo điển hình lái xe giỏi tại Hội nghị “Chiến sĩ lái xe giỏi và thợ sửa chữa xe giỏi toàn quân” do Tổng cục Hậu cần tổ chức. Tại đây, hạnh phúc lớn nhất cuộc đời của ông Đoàn Minh Nguyệt được vinh dự được gặp Bác Hồ và được Người trao huy hiệu.

  Anh hùng LLVT nhân dân Đoàn Minh Nguyệt (ngoài cùng bên phải) dự Lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân của Quân khu 4.

Từ ngày gặp Bác, ông Nguyệt luôn khắc ghi những lời Bác Hồ dạy, nỗ lực khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Giữa năm 1969, ông cùng 3 đồng đội được giao nhiệm vụ vận chuyển vũ khí, lương thực cho Quân khu Nam Lào. Khi đến địa phận nước bạn, mưa tầm tã suốt cả tháng trời khiến toàn bộ cầu, ngầm trên đường đều bị cuốn phăng. Nhiều bom nổ chậm, bom bi, bom từ trường sót lại trên đường rất nhiều. “Chúng tôi thay nhau chặt cây bắc cầu, cứ ba cây gỗ bắc được cho một bánh xe chạy qua. Trong hai tháng ròng rã vừa đi, vừa bắc cầu, chúng tôi đã bắc được 22 chiếc cầu và ngầm để đến địa điểm cần giao hàng. Với điều kiện thời tiết thuận lợi, cung đường này chúng tôi chỉ đi khoảng 5 ngày là hoàn thành nhiệm vụ”, ông Nguyệt nhớ lại.

Với những thành tích trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, bám đường, bám xe, tháng 8-1970 anh lính lái xe Đoàn Minh Nguyệt vinh dự được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. Từ người lính lái xe, cuối năm 1974, ông được đề bạt lên Đại đội trưởng Đại đội 2, Trung đoàn 10, Đoàn 559, chỉ huy đại đội tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Chiến tranh kết thúc, Anh hùng LLVT nhân dân Đoàn Minh Nguyệt tiếp tục công tác tại Cục Hậu cần Quân khu 4 cho đến năm 1983 về hưu.

Trở về đời thường, phát huy tinh thần anh dũng trong chiến đấu, Anh hùng LLVT nhân dân Đoàn Minh Nguyệt tiếp tục bắt tay vào công cuộc phát triển kinh tế, chống đói nghèo. Cùng với đầu tư kinh doanh nhà hàng, khách sạn, ông thuê gần 20.000m2 ao đầm nuôi trồng thủy sản. Không chỉ mang lại thu nhập cho gia đình, ông đã tạo việc làm cho hàng chục lao động địa phương. Ngoài ra, ông còn tham gia các hoạt động phong trào của địa phương và hoạt động của Hội nạn nhân chất độc da cam; Hội quân tình nguyện Việt Nam - Lào…

Chia tay người Anh hùng một thời xông pha trên tuyến đường Trường Sơn huyền thoại, trong tôi vẫn ấn tượng mãi phong thái đĩnh đạc, cần mẫn của Anh hùng LLVT nhân dân Đoàn Minh Nguyệt. Người Anh hùng không bằng lòng với những gì mình có mà luôn hướng về phía trước để xây dựng gia đình, quê hương ngày càng giàu mạnh.