Phóng viên (PV): Thưa đồng chí, những nhóm việc làm văn phòng nào tại Việt Nam đang chịu sức ép mất việc từ AI rõ rệt nhất hiện nay?

TS Phạm Ngọc Toàn: Theo tôi, nhóm việc làm văn phòng chịu sức ép lớn nhất từ AI hiện nay là những công việc có nhiều nhiệm vụ lặp lại, được chuẩn hóa và chủ yếu xử lý thông tin, văn bản hoặc dữ liệu. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ việc AI có thể thay thế một số nhiệm vụ với việc NLĐ chắc chắn bị mất việc.

TS Phạm Ngọc Toàn. 

Theo nghiên cứu của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) công bố tháng 4-2026, khoảng 11,5 triệu lao động Việt Nam, tương đương cứ 5 người có việc làm thì có một người đang làm những nghề có khả năng chịu tác động từ AI tạo sinh. Trong đó, khoảng 1 triệu lao động thuộc nhóm nghề có nhiệm vụ vừa dễ tự động hóa, vừa có tính chuẩn hóa cao. Đáng chú ý, 64,9% việc làm thuộc nhóm hỗ trợ hành chính, văn phòng nằm trong nhóm có mức độ tiếp xúc AI cao nhất. Từ đặc điểm công việc tại Việt Nam, tôi cho rằng cần chú ý trước hết đến nhóm nhập liệu, xử lý hồ sơ, lưu trữ và tổng hợp báo cáo theo mẫu; tiếp đến là các vị trí kế toán nghiệp vụ, xử lý chứng từ, chăm sóc khách hàng theo kịch bản và sản xuất nội dung đơn giản.

Hiện nay, Luật Việc làm năm 2025 quy định hỗ trợ NLĐ tham gia đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề. Theo đó, người đáp ứng điều kiện được hỗ trợ học phí và tiền ăn trong thời gian đào tạo, với thời gian hỗ trợ tối đa 6 tháng. NLĐ cần tập trung vào hai vấn đề: Một là đơn giản hóa thủ tục, tận dụng dữ liệu bảo hiểm thất nghiệp đã có để giảm việc kê khai, xác minh trùng lặp. Hai là mở rộng các khóa đào tạo ngắn hạn, linh hoạt, có sự tham gia của doanh nghiệp để bảo đảm kỹ năng được đào tạo phù hợp với nhu cầu tuyển dụng.

PV: Nếu không muốn bị AI thay thế hoặc mất việc, nhóm làm việc văn phòng cần học thêm những kỹ năng gì, thưa đồng chí?

Nhân viên làm việc tại chi nhánh một ngân hàng trên địa bàn TP Hà Nội. Ảnh: NGỌC ANH 

TS Phạm Ngọc Toàn: Theo tôi, NLĐ văn phòng cần ưu tiên 3 nhóm kỹ năng: Trước hết, cần biết sử dụng các công cụ AI để hỗ trợ những nhiệm vụ thường xuyên như tổng hợp thông tin, soạn thảo văn bản, xử lý dữ liệu và lập báo cáo. Quan trọng hơn, NLĐ phải biết kiểm tra kết quả do AI tạo ra, phát hiện sai sót và bảo vệ thông tin của cơ quan, doanh nghiệp. Thứ hai, cần nâng cao tư duy phân tích, khả năng đánh giá và giải quyết vấn đề. Khi AI có thể thực hiện nhanh nhiều thao tác thông thường, giá trị của NLĐ ngày càng nằm ở khả năng xác định đúng vấn đề, lựa chọn phương án và chịu trách nhiệm về kết quả công việc. Thứ ba, cần kết hợp kỹ năng công nghệ với chuyên môn nghề nghiệp. Một nhân viên kế toán phải hiểu nghiệp vụ và kiểm soát rủi ro; nhân viên marketing phải hiểu khách hàng và thị trường; nhân viên hành chính phải hiểu quy trình quản lý. AI là công cụ giúp họ thực hiện những công việc đó hiệu quả hơn, chứ không thay thế yêu cầu về kiến thức chuyên môn.

PV: Đồng chí có đề xuất gì với cơ quan chức năng để tránh làn sóng thất nghiệp do AI trong những năm tới?

TS Phạm Ngọc Toàn: Theo tôi, trong 3 năm tới, nguy cơ đáng quan tâm đối với thị trường lao động Việt Nam không chỉ là AI thay thế một số vị trí việc làm, mà còn là sự thay đổi nhanh về yêu cầu kỹ năng trong khi khả năng thích ứng của NLĐ chưa theo kịp. Từ góc độ nghiên cứu và dự báo thị trường lao động, tôi cho rằng cần ưu tiên 4 giải pháp.

Thứ nhất, xây dựng hệ thống theo dõi và cảnh báo sớm những ngành, nghề chịu tác động lớn của AI. Cần kết hợp dữ liệu lao động việc làm, thông tin tuyển dụng và mức độ ứng dụng công nghệ tại doanh nghiệp để nhận diện kịp thời những vị trí có xu hướng giảm nhu cầu tuyển dụng, đồng thời xác định những kỹ năng và nghề mới đang gia tăng nhu cầu.

Thứ hai, ưu tiên đào tạo lại trước khi NLĐ mất việc. Khi doanh nghiệp ứng dụng AI hoặc thay đổi công nghệ, cần khuyến khích đánh giá khả năng đào tạo, bố trí lại lao động thay vì chỉ lựa chọn phương án cắt giảm nhân sự. Chính sách hỗ trợ đào tạo để duy trì việc làm trong Luật Việc làm năm 2025 cần được triển khai theo hướng này.

Thứ ba, đổi mới hệ thống đào tạo kỹ năng, nhất là các chương trình ngắn hạn gắn với từng nhóm nghề. Cần ưu tiên những lao động làm công việc lặp lại, lao động trung niên và những người ít có điều kiện tiếp cận đào tạo. Nội dung đào tạo phải xuất phát từ sự thay đổi nhiệm vụ thực tế tại doanh nghiệp, không chỉ dừng ở kiến thức chung về công nghệ.

Thứ tư, hiện đại hóa hệ thống dịch vụ việc làm, kết nối dữ liệu NLĐ với nhu cầu tuyển dụng và đào tạo để hỗ trợ chuyển nghề nhanh hơn. Khi một nhóm nghề giảm nhu cầu lao động, hệ thống cần xác định được những công việc tương đồng và những kỹ năng NLĐ cần bổ sung để chuyển sang vị trí mới.

PV: Trân trọng cảm ơn đồng chí!