Phóng viên (PV): TP Hồ Chí Minh đã và đang thực hiện nhiều dự án lớn về thoát nước, chống triều cường và cải tạo kênh rạch, nhưng tình trạng ngập vẫn tái diễn ở nhiều nơi. Theo bà, thực tế này cho thấy những hạn chế gì trong cách tiếp cận và triển khai các giải pháp chống ngập hiện nay?

PGS, TS Nguyên Hạnh Nguyên: Muốn hiểu vì sao TP Hồ Chí Minh vẫn ngập, cần nhìn vào 3 yếu tố: Hệ thống thoát nước, sự thay đổi của điều kiện tự nhiên và tác động của quá trình phát triển đô thị. Trong đó, tôi đặc biệt quan tâm đến tình trạng đô thị hóa quá nhanh ở một số khu vực.

TP Hồ Chí Minh có nhiều vùng đất thấp, chịu ảnh hưởng của triều cường. Khi mưa lớn, nước không thoát kịp; khi triều lên cao, việc thoát nước càng khó khăn. Nếu hai yếu tố này xảy ra cùng lúc, tình trạng ngập sẽ nghiêm trọng hơn. Bên cạnh đó, đô thị ngày càng bê tông hóa khiến nước mưa khó thấm xuống đất. Ao, hồ, kênh rạch và các vùng trũng bị thu hẹp cũng làm giảm khả năng chứa nước tự nhiên. Tình trạng sụt lún càng khiến vấn đề thêm phức tạp. Theo tôi, có hai vấn đề cần đặc biệt lưu ý.

PGS, TS, kiến trúc sư Nguyên Hạnh Nguyên. Ảnh do nhân vật cung cấp

Thứ nhất, phát triển đô thị chưa đi đôi với việc giữ không gian cho nước. Khi đường sá, nhà cửa và các công trình bê tông ngày càng nhiều, nước mưa chảy tràn trên mặt đất nhanh hơn và tập trung trong thời gian ngắn hơn. Trong khi đó, ao, hồ, vùng trũng và kênh rạch bị thu hẹp khiến không gian chứa và điều tiết nước không còn đủ. Nếu chỉ tập trung xây dựng các công trình cao tầng, gia tăng mật độ đô thị mà không tính đến vấn đề này, các công trình chống ngập sẽ khó theo kịp tốc độ đô thị hóa.

Thứ hai, các công trình thoát nước và chống triều khó phát huy hiệu quả nếu thiếu sự đồng bộ. Thoát nước là cả một chuỗi, từ thu gom, dẫn nước đến điều tiết và tiêu thoát. Chỉ cần một khâu không đáp ứng yêu cầu, hiệu quả của toàn hệ thống sẽ bị ảnh hưởng. Chẳng hạn, việc mở rộng cống trên một tuyến đường chưa chắc đã giải quyết được tình trạng ngập nếu tuyến cống tiếp nối hoặc cửa xả không đủ khả năng tiếp nhận nước.

PV: Bà đề xuất cách quản lý và đánh giá như thế nào để hiệu quả chống ngập được đo bằng mức độ an toàn của người dân và khả năng duy trì hoạt động đô thị?

PGS, TS Nguyên Hạnh Nguyên: Tôi đề xuất thành phố áp dụng mô hình quản lý rủi ro ngập tích hợp theo lưu vực, gắn với quy hoạch không gian và đánh giá dựa trên kết quả. Cách tiếp cận này xem xét đồng thời khả năng xảy ra ngập, mức độ ngập, đối tượng bị ảnh hưởng và khả năng phục hồi. Mục tiêu là giảm thiệt hại, bảo vệ dân cư và duy trì các hoạt động thiết yếu của đô thị.

Trước hết, cần xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về địa hình, cao độ, sụt lún, mưa, mực nước sông, triều, mạng lưới thoát nước, hiện trạng sử dụng đất. Trên cơ sở dữ liệu đó, cần phân chia các lưu vực và tiểu lưu vực theo hướng dòng chảy, điều kiện tiêu thoát thực tế; đồng thời xác định mối quan hệ giữa các lưu vực. Phạm vi hành chính phục vụ việc phân công quản lý, còn ranh giới lưu vực phải là cơ sở tính toán kỹ thuật. Điều này đặc biệt cần thiết trên địa bàn thành phố mở rộng, nơi địa hình và cơ chế gây ngập khác nhau giữa các khu vực.

Mỗi lưu vực cần có mục tiêu phục vụ và mục tiêu an toàn rõ ràng. Với tình huống nằm trong năng lực thiết kế, hệ thống phải đáp ứng các yêu cầu đã xác định. Với tình huống vượt thiết kế, phải có phương án hạn chế thiệt hại, xác định rõ nước được dẫn theo hướng nào, tạm trữ tại đâu, khu vực nào cần bảo vệ, hoạt động thiết yếu nào phải duy trì. Đồng thời, cần kiểm soát tác động của các dự án san lấp, nâng nền, xây dựng công trình giao thông ảnh hưởng đến hướng dòng chảy, khả năng tiêu thoát và mức độ ngập ở khu vực lân cận.

Về đánh giá, thành phố cần chuyển mục tiêu giảm ngập thành những chỉ tiêu có thể đo lường và kiểm chứng. Các chỉ tiêu gồm độ sâu ngập, thời gian ngập, diện tích bị ảnh hưởng, số hộ bị nước tràn vào nhà và thời gian gián đoạn giao thông, dịch vụ thiết yếu. Việc so sánh trước và sau đầu tư phải xét đến lượng mưa, cường độ mưa, mực triều và điều kiện đô thị; đồng thời kiểm tra tác động đến khu vực lân cận để tránh giảm ngập ở nơi này nhưng làm tăng rủi ro ở nơi khác.

Một đoạn đường ngập tại TP Hồ Chí Minh (tháng 10-2026). Ảnh: LÊ TIẾN  

Cần kết hợp số liệu quan trắc với mô hình thủy văn, thủy lực đã được kiểm định qua các đợt ngập thực tế. Kết quả đánh giá độc lập cần được công bố sau mỗi mùa mưa. Mỗi nhóm dự án phải có mục tiêu giảm ngập cụ thể và được đánh giá sau khi đưa vào vận hành, thay vì chỉ căn cứ vào tiến độ xây dựng và giải ngân.

PV: Để đạt được những mục tiêu đó, TP Hồ Chí Minh cần triển khai và vận hành đồng bộ các giải pháp chống ngập như thế nào, thưa bà?

PGS, TS Nguyên Hạnh Nguyên: Về giải pháp, cần xây dựng một hệ thống liên tục, từ giữ nước tại nguồn, trữ, điều tiết nước trong đô thị, tiêu thoát và phòng hộ. Tại từng khu đất, có thể sử dụng bể chứa, vườn mưa và bề mặt thấm phù hợp. Ở quy mô khu vực, cần bảo vệ kênh rạch, hồ, vùng trũng và tận dụng công viên, không gian công cộng để chứa nước tạm thời. Trên toàn lưu vực, hệ thống cống, kênh dẫn, cửa xả, trạm bơm và công trình kiểm soát triều phải được kết nối, vận hành đồng bộ.

Thành phố cũng cần xác định rõ đơn vị điều phối, cơ chế chia sẻ dữ liệu và phối hợp liên vùng. Việc vận hành cống, trạm bơm, hồ điều tiết phải dựa trên dự báo mưa, triều và số liệu quan trắc. Kinh phí bảo trì, nhân lực và phương án dự phòng cần được tính toán cho suốt vòng đời công trình. Thứ tự ưu tiên đầu tư nên dựa trên mức giảm rủi ro, số người được bảo vệ, tính cấp thiết và chi phí vòng đời. Thành công của chương trình chống ngập cần được thể hiện bằng mức độ an toàn được nâng lên: Ít nhà dân bị ngập hơn, thời gian ngập ngắn hơn, giao thông ít gián đoạn hơn và các dịch vụ thiết yếu được duy trì.

PV: Trân trọng cảm ơn bà!