 |
| Bìa hai tập thơ của nhà thơ Nguyễn Thị Phượng. |
Khi đọc hai tập thơ "Điều rất khác" và "Hiện hữu" do NXB Thanh niên ấn hành cùng năm 2024 của nhà thơ Nguyễn Thị Phượng, sinh năm 1967, Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội, điều khiến tôi ấn tượng với những phát hiện rất riêng của chị trong bài "Viết tặng mẹ":
"Chỉ niềm vui trực bên giường bệnh nặng
Xin nguyện cầu mong mẹ thảnh thơi!"
Thường thì bố mẹ, người thân ốm đau thì không ai mong muốn, con cái lo lắng, vất vả chăm sóc. Thế nhưng với Nguyễn Thị Phượng, đó là niềm vui. Nghĩ sâu thì giật mình. Hóa ra trong cuộc sống thường nhật với những bận rộn công việc, lo toan cơm áo, mà người ta lãng đi sự quan tâm thăm hỏi, chăm sóc người thân, kể cả bậc cha mẹ sinh thành. Đến khi mẹ ốm nặng, mới có được "niềm vui" chăm sóc mẹ. Câu thơ khiến người đọc thức tỉnh ở sự nghịch lý, để truyền tải thông điệp: Dù bận rộn đến đâu cũng hãy quan tâm và thường xuyên đến thăm hỏi, chăm sóc cha mẹ và người thân của mình!
Nguyễn Thị Phượng viết nhiều về gia đình, từ ông, bà, cha, mẹ, chồng, con và anh, chị, em. Chị đau đớn "Khi không còn ông", nhìn những vật dụng gắn với ông đã thân thuộc, như bộ bàn ghế từng ngồi, nằm trên chiếc giường những khi nghe ông kể chuyện ngày xưa, nay đã phủ bụi. Vì thế với chị:
"Nhưng tôi sẽ mãi còn thân thuộc
Với những chuyện ngày xưa".
Chị viết về cha, mẹ khi đã khuất bóng là những tâm sự từ tâm khảm, ở đâu cũng có hình bóng của họ: "Gương mặt cha đầy khắp", hay "Mơ thấy mẹ ngồi bên hè hong tóc"… Chị viết về bố, mẹ chồng chân thật mà trong lòng mến phục:
"Thày u tham gia kháng chiến
Cất giấu nuôi cán bộ nằm hầm
…Thày u dũng cảm kiên trung
Hòa bình về làng quê đổi mới
Vẫn một đời giữ nếp nhà thanh sạch
Đến lúc đi xa…"
(Bố mẹ chồng).
Khi chị viết về chồng còn chân thật hơn. Phần lớn số bài thơ trong tập "Điều rất khác" chị dành viết "cho anh", cho chồng. Đó là những tâm sự gan ruột, không giả dối, hoa mỹ:
"Giữa bao nhiêu nỗi buồn công việc
Em muốn viết cho anh điều thật nhất
Như là em
Như mọi vật quanh em hiện hữu
Anh không tin hay là anh sẽ hiểu".
Bởi vì với chị:
"Anh là điều rất khác
Không thể nào qua đi"...
(Điều rất khác)
Đương nhiên là một người mẹ, Nguyễn Thị Phượng dành nhiều bài thơ, câu thơ viết cho con. Chị đồng cảm với con gái và động viên con làm những việc thiện, giúp những trẻ em nghèo, bất hạnh, không may mắn khi mắc những căn bệnh hiểm nghèo, tự kỷ:
"Du học sinh về nhà
Con trách nhiệm bước vào cuộc sống.
… Dù bận rộn vẫn tham gia dạy lớp
Cho trẻ em tự kỷ khó khăn
Trẻ em vùng cao không đủ cơm bán trú
Con dành phần lương
Những bệnh nhân với người nhà gặp khó khăn
Trong bệnh viện".
(Viết cho con gái).
Chị dạy con biết thương yêu, chia sẻ, như những suy nghĩ và công việc chị đã làm:
"Khi bầy trẻ vùng cao
Bò qua chiếc cầu treo
Vượt con lũ tới trường
Đất nước xuân về chưa hết đói nghèo lam lũ
Lá lành đùm lá rách thương nhau"
(Tôi tin).
Viết cho những người thân trong gia đình, viết cho bạn bè và rộng ra, Nguyễn Thị Phượng viết về những số phận con người. Từ những người bạn cùng thời đi học, đến những vị tướng về hưu, hay những người lao động, chị đều có những vần thơ chia sẻ, tri tâm. Đó là thầy giáo:
"Tường vôi trắng bảng đen bục giảng
Thầy ân cần kiên nhẫn, chắt chiu"
(Mái trường tuổi thơ tôi Hà Nội);
Là bạn học một thời:
"Bạn vào quân đội
Trên vai hàm sĩ quan
Đêm nhớ phố tuổi thơ
Trang thơ viết vội giữa chặng nghỉ hành quân
Gom thành quyển dày gửi về thăm thành phố"
(Bạn thân)
Là vị tướng sau 40 năm quân ngũ xa nhà, nay nghỉ hưu:
"Bốn mươi năm
Bắt đầu cuộc sống gia đình
Tập làm chồng
Làm cha, làm ông
Ngày đi, vợ còn trẻ
Giờ về, tóc bạc…"
(Tướng về hưu).
Mỗi con người một số phận, ở cương vị nào họ cũng có công việc, sứ mệnh của mình. Nguyễn Thị Phượng dùng hình tượng "chiếc lá" để nói về thân phận mình, cũng như để nói về mỗi con người. Vì thế, hình tượng "chiếc lá" được chị nhắc rất nhiều lần, tất nhiên ở những hoàn cảnh khác nhau. Chị nhớ về mẹ với "Lá nằm nghiêng bình thản", "Lá nằm nghiêng kể chuyện" và chị "nặng lòng ơn nguồn lá". Nhìn trẻ em vui đùa trong công viên, chị thấy lá xanh hơn: "Công viên chiều nay xanh màu lá/Soi vào bằng đôi mắt trẻ thơ/trong veo". Khi cùng dòng người đi lễ chùa, tìm về nơi an nhiên cõi Phật, chị nhìn thấy "những chiếc lá khoan thai". Với thẳm sâu ký ức thì "Hàng sấu già thêm một lần rụng lá/Tóc vẫn buông dài thơm hương gió heo may"…
Qua hình tượng "chiếc lá", Nguyễn Thị Phượng cho thấy sự đa cảm của mình. Khi vui, chị thấy "Như màu xanh của lá/ Như bầy chim ríu rít trước hiên nhà", hay "Quả trĩu trái trong vườn cây xanh lá". Khi buồn thì "Chỉ những chiếc lá còn lại với tôi" và "Em òa khóc trên con đường không còn xanh lá", hay "Những chiếc lá mùa thu rơi vào quên lãng". Nhưng trên hết, đó là niềm tin vào những điều tốt đẹp, là tương lai tươi sáng: "Vòm lá xanh màu tuổi trẻ" hay "Thức dậy vào mỗi ban mai xanh màu lá/Ngày bắt đầu từ những mầm thiện lành sinh sôi"…
Kể từ khi dự Lớp sáng tác văn học khóa 1 do Báo Người Hà Nội, Hội Văn học-Nghệ thuật Hà Nội (nay là Hội Nhà văn Hà Nội) mở năm 1991, suốt 35 năm qua, Nguyễn Thị Phượng bền bỉ, âm thầm sáng tác văn học. Chị tập hợp 65 bài thơ xếp vào hai tập thơ "Điều rất khác" và "Hiện hữu" để lưu lại những tâm sự, trải nghiệm và tri tâm người thân, bạn bè. Chị quan niệm người làm thơ như người làm vườn, gieo hạt, nhẫn nại trên cánh đồng chữ:
"Bắt đầu từ những mầm bé xíu
Mầm này sẻ chia
Mầm này cảm thông
Mầm này trắc ẩn
Đến một ngày
Cả vườn nở hoa rực rỡ"
(Gieo hạt).
Thơ Nguyễn Thị Phượng không kỹ thuật, cầu kỳ, nhưng lấp lánh bởi sự chân thật, giản dị, ở đó có muôn sắc màu cuộc sống thường nhật, đồng thời chan chứa nỗi niềm nội tâm sâu kín. Đọc thơ Nguyễn Thị Phượng, có những câu bất ngờ như "Qua đêm dài nhuộm bạc cả ban mai", hay "Chỉ mình tôi nhìn thấy/Chiếc lá đầu tiên của mùa thu/Đang rơi"… Mong rằng, Nguyễn Thị Phượng tiếp tục dấn thân đi con đường gập ghềnh, nhọc nhằn trên "cánh đồng chữ nghĩa", để có những bài thơ, tập thơ mới gửi đến bạn đọc.
Hà Nội, 4-2026