Thượng tá, nhà thơ Nguyễn Văn Á nhập ngũ tháng 8-1971, chiến đấu tại Quảng Trị từ năm 1971 đến 1973. Ông công tác tại Sư đoàn 301, Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội với quân hàm Thượng tá, cho đến khi chuyển ngành.

Không cầu kỳ trong kỹ thuật biểu đạt, không đặt nặng tham vọng cách tân, thơ Nguyễn Văn Á hình thành từ sự lắng đọng của cảm xúc, từ những ký ức đã được thời gian chưng cất. Theo Đại tá, PGS, TS Nguyễn Thanh Tú, nguyên Phó tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội: Đó là thứ thơ “không cố tình làm”, mà “tứ thơ, ý thơ cứ đến neo vào tâm trạng”, mang vẻ thô mộc nhưng chân thật, “như vàng ròng của tâm hồn”. Nhận định này không chỉ khái quát phong cách sáng tác, mà còn chỉ ra nguồn cội của giá trị thẩm mỹ trong thơ Nguyễn Văn Á: Sự chân thành của trải nghiệm và độ chín của cảm xúc.

 Tập thơ "Bóng núi" của Thượng tá, nhà thơ Nguyễn Văn Á.

Tập thơ “Bóng núi” gồm 96 bài, được cấu trúc thành ba phần: “Hoài cảm”, “Xuân đợi” và “Bóng núi”. Đây không đơn thuần là sự phân chia hình thức, mà là một tổ chức nội tại theo logic cảm xúc. Ở phần “Hoài cảm”, người đọc bắt gặp những ký ức đầu đời, những rung động tình yêu trong trẻo nhưng đã nhuốm màu chia ly. Sang phần “Xuân đợi”, không gian cảm xúc mở rộng với những ám ảnh về thời gian, về sự lỡ dở, về những giấc mơ không trọn vẹn. Và đến phần “Bóng núi”, giọng điệu thơ trở nên trầm tĩnh hơn, mang tính chiêm nghiệm, hướng tới những giá trị bền vững như quê hương, đất nước, mẹ, đồng đội và lịch sử.

Điểm nổi bật xuyên suốt tập thơ là sự hiện diện dày đặc của ký ức. Tuy nhiên, ký ức trong thơ Nguyễn Văn Á không dừng lại ở hoài niệm đơn thuần, mà trở thành một không gian nghệ thuật, nơi quá khứ và hiện tại liên tục đối thoại, soi chiếu lẫn nhau. Trong thế giới ký ức ấy, chiến tranh hiện lên không phải như một khái niệm trừu tượng, mà là một thực tại cụ thể, với đầy đủ những mất mát, hy sinh và ám ảnh. Những câu thơ về chiến trường không tô vẽ, không cường điệu, mà giữ được độ chân thực đến ám ảnh.

Về phương diện nghệ thuật, thơ Nguyễn Văn Á mang đậm tính mộc mạc, giản dị. Ngôn ngữ thơ gần với lời nói đời thường, ít dụng công tu từ phức tạp, nhưng chính sự giản dị ấy lại tạo nên cảm giác chân thật, dễ chạm tới người đọc. Tuy vậy, trong dòng chảy chung ấy, vẫn xuất hiện những câu thơ có tính đột sáng, tạo hiệu ứng thẩm mỹ mạnh mẽ.