Khi đời sống nghệ thuật đi nhanh hơn những khuôn khổ lý luận quen thuộc

Có những thay đổi chỉ cần vài năm để diễn ra, nhưng phải mất nhiều thời gian chúng ta mới nhận diện đầy đủ ý nghĩa của chúng. Một bộ phim Việt Nam tiếp cận khán giả trên nền tảng xuyên biên giới; một buổi biểu diễn kết hợp sân khấu thực với không gian số; một tác phẩm mỹ thuật được sáng tạo với sự hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo; hay những trào lưu âm nhạc được cộng đồng trực tuyến đón nhận và lan truyền với tốc độ chưa từng có. Tất cả đang đặt ra những câu hỏi mới về sáng tạo, giá trị nghệ thuật, chủ thể thẩm mỹ, công chúng và thị trường.

 Ảnh minh họa: qdnd.vn

Trong bài phát biểu tại Lễ kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Hội đồng Lý luận Trung ương, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhận định: “Có những vấn đề thực tiễn đã đi trước nhận thức; có những nhận thức đúng nhưng chưa thành cơ chế thực hiện hiệu quả”. Nhận định ấy đặc biệt đáng suy ngẫm đối với lĩnh vực văn học, nghệ thuật. Khi thực tiễn sáng tạo biến đổi nhanh chóng, lý luận không thể chỉ sử dụng những hệ khái niệm quen thuộc để mô tả cái mới, càng không nên vội vàng đánh giá những hình thức biểu đạt khác biệt chỉ bằng tiêu chí được hình thành trong một hoàn cảnh lịch sử khác.

Điều đó không có nghĩa phải từ bỏ những nguyên lý thẩm mỹ và giá trị đã được kiểm nghiệm. Trái lại, chính từ nền tảng ấy, chúng ta cần tiếp tục phát triển năng lực giải thích những biến đổi của đời sống nghệ thuật. Cái mới không đương nhiên là cái hay, cũng như cái khác lạ không mặc nhiên là sự lệch chuẩn. Sứ mệnh của lý luận là làm rõ bản chất, điều kiện hình thành, giá trị và giới hạn của mỗi hiện tượng, để có thể phân biệt sự tìm tòi có giá trị với biểu hiện chạy theo thị hiếu nhất thời.

Một vấn đề cần được nhận thức đầy đủ hơn là sự thay đổi của công chúng. Ngày nay, công chúng không chỉ tiếp nhận mà còn bình luận, sáng tạo lại, phân phối và thậm chí tham gia định hình số phận một tác phẩm. Cùng một sản phẩm nghệ thuật có thể được cảm nhận rất khác nhau giữa các thế hệ, cộng đồng và môi trường truyền thông. Vì vậy, lý luận văn học, nghệ thuật không thể chỉ nghiên cứu tác giả và tác phẩm theo nghĩa truyền thống, mà phải quan tâm đến hệ sinh thái sáng tạo, các nền tảng công nghệ, những quan hệ kinh tế và phương thức tiếp nhận mới.

Từ câu chuyện đó, cần đặt ra yêu cầu xây dựng một hệ thống lý luận vừa có bản lĩnh về giá trị, vừa đủ năng lực đối thoại với cái mới. Kiên định định hướng phát triển văn hóa và con người Việt Nam không đối lập với khuyến khích thử nghiệm nghệ thuật. Ngược lại, chỉ khi có đời sống sáng tạo phong phú, có tranh luận học thuật cởi mở và có những phương pháp tiếp cận khoa học, nền lý luận mới có điều kiện được làm giàu và phát triển.

Đưa lý luận, phê bình trở thành động lực của sáng tạo và phát triển con người

Một điểm rất đáng chú ý trong bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là yêu cầu “làm rõ vai trò của văn hóa, lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật trong định hướng sáng tạo, xây dựng nhân cách và sức mạnh mềm quốc gia”. Đây là một cách đặt vấn đề có tính hệ thống: Lý luận và phê bình không đứng ngoài quá trình phát triển văn hóa, mà là bộ phận tham gia hình thành chất lượng sáng tạo, đời sống thẩm mỹ và những giá trị được xã hội tiếp nhận.

Trong thực tế, đôi khi chúng ta còn nhìn lý luận và phê bình như hoạt động đến sau tác phẩm, chủ yếu để giới thiệu, nhận xét, khen chê hoặc xác định đúng sai. Cách tiếp cận ấy chưa phản ánh đầy đủ chức năng của lý luận và phê bình. Một nền phê bình có chất lượng phải tạo ra đối thoại giữa tác phẩm với công chúng, giữa nghệ sĩ với đời sống, giữa truyền thống với hiện đại; giúp người sáng tạo nhận rõ chiều sâu của lao động nghệ thuật và giúp công chúng hình thành năng lực cảm thụ, lựa chọn, đánh giá.

Muốn như vậy, phê bình trước hết phải có tính chuyên nghiệp và tính độc lập học thuật. Không thể thay thế phân tích tác phẩm bằng cảm tính, định kiến, lời ca ngợi dễ dãi hoặc những tranh luận thiên về gây chú ý. Một nhận định phê bình chỉ có sức thuyết phục khi được nâng đỡ bằng tri thức, chứng cứ, sự am hiểu loại hình nghệ thuật và trách nhiệm đối với người sáng tạo cũng như công chúng. Đặc biệt, trong môi trường mạng, nơi một ý kiến có thể lan truyền rất nhanh, phẩm chất trung thực, công bằng và văn hóa tranh luận càng trở nên quan trọng.

Cũng cần trả lại vị trí xứng đáng cho các nghiên cứu cơ bản về mỹ học, lịch sử nghệ thuật, lý luận thể loại và các hệ giá trị văn hóa Việt Nam. Không có nền tảng tri thức tích lũy lâu dài, chúng ta khó lý giải được những đổi mới phức tạp của nghệ thuật đương đại. Chính vì vậy, chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước về việc “tránh đòi hỏi mọi kết quả đều chuyển ngay thành giải pháp trước mắt” có ý nghĩa thiết thực. Khoa học lý luận cần được đánh giá bằng đóng góp mới và giá trị lâu dài, chứ không chỉ bằng số lượng hội thảo, báo cáo hay kiến nghị ngắn hạn.

Mặt khác, công nghiệp văn hóa đang làm thay đổi tương quan giữa giá trị nghệ thuật và giá trị thị trường. Một tác phẩm được công chúng rộng rãi đón nhận có thể tạo ra nguồn thu và hiệu ứng lan tỏa lớn; song doanh thu, lượt xem hay mức độ nổi tiếng không phải là những thước đo duy nhất của giá trị thẩm mỹ. Cũng không nên vì sự khác biệt về khả năng sinh lời mà xem nhẹ các loại hình nghệ thuật hàn lâm, thử nghiệm hoặc nghệ thuật truyền thống đang cần được bảo trợ. Lý luận và phê bình cần góp phần tạo lập hệ tiêu chí đánh giá đa chiều, vừa coi trọng chất lượng nghệ thuật, vừa xem xét tác động văn hóa, xã hội và năng lực tiếp cận công chúng.

Sâu xa hơn, phát triển văn học, nghệ thuật cuối cùng vẫn là vì con người. Tác phẩm tốt không chỉ mang đến cảm xúc, mà còn có thể mở rộng hiểu biết, đánh thức lòng trắc ẩn, nuôi dưỡng sự đồng cảm, ý thức trách nhiệm và khát vọng sống tốt đẹp. Khi lý luận và phê bình góp phần nâng cao chất lượng sáng tạo và trình độ thưởng thức, chúng cũng trực tiếp tham gia vào quá trình xây dựng con người và sức mạnh mềm quốc gia.

Từ đổi mới tư duy đến xây dựng hệ sinh thái lý luận, phê bình trong kỷ nguyên số

Đổi mới lý luận văn học, nghệ thuật không thể chỉ dừng ở một lời kêu gọi đổi mới nhận thức. Điều quan trọng là tạo ra môi trường, phương pháp và cơ chế để những nhận thức mới hình thành, được tranh luận, kiểm nghiệm và đi vào đời sống. Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu “tôn trọng ý kiến khác nhau có căn cứ, tạo điều kiện tranh luận khoa học thẳng thắn”. Đó là một nguyên tắc đặc biệt cần thiết với nghiên cứu và phê bình nghệ thuật, nơi sự đa dạng trong cách tiếp cận vừa là đặc trưng của đối tượng nghiên cứu, vừa là điều kiện thúc đẩy sáng tạo.

Trước hết, cần có những chương trình nghiên cứu mang tính nền tảng và dài hạn về đời sống văn học, nghệ thuật Việt Nam trong quá trình chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Những vấn đề như nghệ thuật do trí tuệ nhân tạo hỗ trợ, quyền tác giả trong không gian số, sự thay đổi của thị hiếu, tác động của thuật toán đến tiếp nhận văn hóa, bảo tồn và sáng tạo từ di sản cần được nghiên cứu liên ngành. Nhà lý luận không thể đứng ngoài công nghệ, nhưng cũng không thể để công nghệ thay thế tư duy phản biện và trách nhiệm khoa học của mình.

Tiếp đó, cần kết nối thực chất viện nghiên cứu, trường đại học, hội văn học nghệ thuật, cơ quan quản lý, doanh nghiệp sáng tạo, nghệ sĩ và công chúng. Lý luận cần được nuôi dưỡng từ thực tiễn sáng tạo, từ những câu hỏi mà nghệ sĩ gặp phải và từ những biến đổi đang diễn ra trong đời sống. Các diễn đàn phê bình nên trở thành nơi trao đổi chuyên môn có chiều sâu, thay vì chỉ tổ chức những cuộc hội thảo nặng về tổng kết hoặc những cuộc tranh luận thiếu nền tảng học thuật. Cần coi trọng tiếng nói của thế hệ nghiên cứu trẻ, đồng thời phát huy kinh nghiệm của các chuyên gia đầu ngành.

Một nhiệm vụ không kém phần quan trọng là đổi mới việc đào tạo và sử dụng đội ngũ nghiên cứu, phê bình. Cần trang bị năng lực tiếp cận lý thuyết mới, phương pháp khảo sát công chúng, phân tích dữ liệu văn hóa, hiểu biết về quyền sở hữu trí tuệ, kinh tế sáng tạo và đạo đức sử dụng trí tuệ nhân tạo. Bên cạnh đó, phải có cơ chế đặt hàng nghiên cứu, công bố kết quả, phản biện độc lập và đãi ngộ phù hợp với đặc thù lao động học thuật. Người làm lý luận cần được khuyến khích dấn thân vào vấn đề khó, không né tránh thực tế phức tạp, nhưng luôn giữ thái độ thận trọng trước chứng cứ và sự khác biệt quan điểm.

Cuối cùng, phát triển lý luận và phê bình văn học, nghệ thuật cần được gắn với xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, với giáo dục thẩm mỹ trong nhà trường, với không gian sáng tạo ở địa phương và với sự phát triển của công nghiệp văn hóa. Một nền lý luận mạnh không chỉ xuất hiện trong các công trình nghiên cứu; sức sống của nó phải được thể hiện qua chất lượng đối thoại nghệ thuật, qua sự trưởng thành của công chúng và qua khả năng giúp các chính sách văn hóa nhận diện đúng nhu cầu sáng tạo.

Bước vào kỷ nguyên mới, điều chúng ta cần không phải là một nền lý luận chỉ giỏi nhận xét những gì đã có, mà là một nền lý luận đủ chiều sâu để bảo vệ những giá trị bền vững, đủ cởi mở để nhận diện những giá trị mới và đủ bản lĩnh để đồng hành cùng nghệ sĩ trên những hành trình sáng tạo chưa có tiền lệ. Khi lý luận bắt nguồn từ thực tiễn, lấy con người làm trung tâm và được nuôi dưỡng bởi tự do tìm tòi có trách nhiệm, lý luận và phê bình văn học, nghệ thuật mới thực sự trở thành một nguồn lực trí tuệ cho phát triển văn hóa Việt Nam.