Việt Nam góp phần định hình một nghị trình chung của thế giới

Việt Nam đề xuất sáng kiến “Thập kỷ quốc tế về văn hóa vì phát triển bền vững” xuất phát từ chính kinh nghiệm phát triển của dân tộc. Trải qua chiến tranh, tái thiết, công cuộc đổi mới và hội nhập, chúng ta hiểu rằng tăng trưởng kinh tế là vô cùng quan trọng nhưng không phải đích đến duy nhất. Một xã hội có thể giàu hơn về vật chất mà vẫn đối diện với đứt gãy ký ức, bất bình đẳng cơ hội, suy giảm niềm tin và tổn thương môi trường sống nếu không coi trọng các giá trị văn hóa. Trong những thời điểm khó khăn nhất, chính tình yêu nước, tinh thần cộng đồng, lòng nhân ái, khả năng thích ứng và sức sáng tạo của con người Việt Nam đã trở thành nguồn lực nâng đỡ đất nước.

Chúng ta cũng nhìn thấy trong sáng kiến sự tiếp nối nhất quán tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò soi đường của văn hóa. Đó là sự phát triển trong nhận thức: Không chỉ bảo tồn văn hóa như một di sản của quá khứ, mà phải phát huy văn hóa như một năng lực kiến tạo tương lai; không chỉ coi văn hóa là lĩnh vực cần được đầu tư sau khi kinh tế phát triển, mà xác định văn hóa là thành tố hiện diện ngay trong phương thức phát triển.

 

Tiết mục văn nghệ trong khai mạc Lễ hội Văn hóa thế giới tại Hà Nội, tháng 10-2026. Ảnh: LỘC CHUNG 

Sáng kiến được ủng hộ rộng rãi bởi nó chạm đến một khoảng trống mà thế giới ngày càng cảm nhận rõ. Chương trình Nghị sự 2030 về phát triển bền vững được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 2015, đặt ra nhiều mục tiêu phát triển bền vững, nhưng văn hóa chưa có một mục tiêu độc lập, tương xứng với vai trò xuyên suốt của nó. Trong bối cảnh xung đột, biến đổi khí hậu, dịch chuyển dân cư, bất bình đẳng và những biến động do công nghệ số tạo ra, văn hóa có thể góp phần nuôi dưỡng đối thoại, gắn kết cộng đồng, bảo vệ sự đa dạng, tạo sinh kế và củng cố sức chống chịu xã hội. Mỗi quốc gia có hoàn cảnh riêng, nhưng đều có nhu cầu giữ gìn bản sắc và phát triển mà không đánh mất con người.

Gần 4 thập kỷ sau Thập kỷ thế giới về phát triển văn hóa 1988-1997, việc một thập kỷ quốc tế mới dành cho văn hóa được xác lập có ý nghĩa đặc biệt. Đây không đơn thuần là sự trở lại của một chủ đề cũ. Nếu trước đây thách thức lớn là đưa văn hóa vào nhận thức về phát triển thì hôm nay yêu cầu cao hơn là đưa văn hóa vào thể chế, nguồn lực, chỉ số đánh giá và những quyết định phát triển cụ thể. Chính sự chuyển biến ấy làm nên tính thời sự và khả năng quy tụ của sáng kiến Việt Nam.

Từ tinh thần Nghị quyết 80 đến nội hàm của một thập kỷ hành động

Cốt lõi của sáng kiến có thể diễn đạt bằng một thông điệp giản dị: Phát triển bền vững phải có chiều sâu văn hóa và phải hướng tới con người. Thập kỷ 2027-2036 tạo khuôn khổ để các nước tích hợp văn hóa vào chính sách phát triển; thúc đẩy bảo vệ di sản, đa dạng văn hóa, giáo dục, sáng tạo và các ngành công nghiệp văn hóa; mở rộng hợp tác, huy động nguồn lực, xây dựng năng lực và chia sẻ kinh nghiệm. Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) được xác định là cơ quan đầu mối phối hợp xây dựng kế hoạch hành động với các quốc gia và đối tác. 

Điều đáng chú ý là tinh thần ấy có sự tương thích sâu sắc với đường lối phát triển của Việt Nam, đặc biệt là Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7-1-2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Nghị quyết xác định phát triển văn hóa, con người là “nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết” cho phát triển nhanh và bền vững. Đó là bước tiến quan trọng về tư duy: Văn hóa không đứng bên lề tăng trưởng, mà tham gia định hướng chất lượng tăng trưởng, điều chỉnh hành vi và làm giàu ý nghĩa của phát triển.

Du khách tham quan Triển lãm ảnh "Hà Nội trong tôi" tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám, Hà Nội, tháng 10-2026. Ảnh: MỘC LAN 

Nghị quyết 80 còn khẳng định đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển bền vững, cho tương lai dân tộc; nhân dân là chủ thể sáng tạo và thụ hưởng văn hóa. Những quan điểm ấy gặp gỡ trực tiếp với tinh thần của Thập kỷ quốc tế: Đặt con người ở trung tâm, bảo đảm cơ hội tham gia văn hóa, tôn trọng sự đa dạng và tạo điều kiện để văn hóa đóng góp vào các mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường. Ở phương diện đối ngoại, sáng kiến cũng là biểu hiện sinh động của chủ trương chủ động, tích cực hội nhập quốc tế và đóng góp có trách nhiệm vào việc giải quyết các vấn đề chung.

Thành công của chính sách văn hóa có thể đo đếm được ở việc tạo ra việc làm, doanh nghiệp sáng tạo, thị trường sản phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Tuy nhiên, sẽ là chưa đầy đủ nếu đồng nhất văn hóa với doanh thu hay số lượng sự kiện; mà còn là bảo đảm quyền tiếp cận, sự công bằng giữa vùng miền, khả năng gìn giữ tiếng nói của cộng đồng, chất lượng môi trường văn hóa và sự phát triển nhân cách con người. Đây chính là chiều sâu nhân văn mà Việt Nam có thể góp thêm vào cuộc thảo luận quốc tế về phát triển bền vững.

Biến vai trò khởi xướng thành hình mẫu thực thi

Một sáng kiến được thông qua là thành công của vận động quốc tế; một sáng kiến đi vào đời sống mới là thước đo của năng lực kiến tạo. Nếu muốn trở thành hình mẫu thực hiện Thập kỷ quốc tế, Việt Nam cần bắt đầu từ chính mình, bằng những việc làm cụ thể, liên tục và có thể đo lường. Chúng ta cần coi giai đoạn 2027-2036 là cơ hội kết nối việc triển khai Nghị quyết 80 với một chương trình hành động quốc gia mang tầm nhìn 10 năm, có phân công trách nhiệm, lộ trình, nguồn lực và cơ chế đánh giá rõ ràng.

Trước hết là đổi mới cách lồng ghép văn hóa trong quản trị phát triển. Khi xây dựng quy hoạch đô thị, chính sách giáo dục, chiến lược du lịch, phát triển nông thôn hay chuyển đổi số, cần đặt câu hỏi: Quyết định này tác động thế nào đến bản sắc, ký ức cộng đồng, không gian sáng tạo và khả năng thụ hưởng văn hóa của người dân? Những câu hỏi ấy phải đi vào quy trình đánh giá chính sách, thay vì chỉ được nêu ở phần thuyết minh. Cùng với đó, cần xây dựng bộ chỉ số theo dõi đóng góp của văn hóa vào phát triển bền vững, bao gồm cả các kết quả kinh tế và những giá trị xã hội khó đo đếm hơn.

Công chúng trải nghiệm đàn K'lông Pút của đồng bào Tây Nguyên tại Triển lãm thế giới EXPO ở Osaka, Nhật Bản, năm 2025. Ảnh: PHƯƠNG MAI 

Một giải pháp cần quan tâm là sớm lựa chọn những mô hình thí điểm có sức thuyết phục. Việt Nam có thể phát triển các địa phương tiêu biểu về bảo tồn di sản gắn với sinh kế cộng đồng; các đô thị sáng tạo kết hợp không gian công cộng, công nghệ và nghệ thuật; các chương trình giáo dục di sản, nghệ thuật cho trẻ em; các mô hình văn hóa số giúp người dân ở miền núi, vùng sâu, vùng xa tiếp cận tài nguyên văn hóa. Mỗi mô hình phải trả lời được 3 câu hỏi: Người dân được hưởng lợi gì? Cộng đồng có thực sự làm chủ hay không? Mô hình có thể duy trì, nhân rộng sau khi kết thúc dự án hay không?

Cùng với đó cần phát huy vai trò của doanh nghiệp, nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, các tổ chức xã hội và giới trẻ. Nhà nước cần giữ vai trò kiến tạo thể chế và đầu tư dẫn dắt, nhưng không thể và không nên làm thay sức sáng tạo của xã hội. Cần khuyến khích hợp tác công-tư, phát triển công nghiệp văn hóa, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, hỗ trợ các doanh nghiệp sáng tạo và tăng cơ hội cho những nhóm dễ bị bỏ lại phía sau. Nếu thập kỷ này chỉ được nhận diện qua hội nghị và khẩu hiệu, chúng ta sẽ bỏ lỡ điều quý giá nhất: Khơi dậy khả năng sáng tạo của hàng triệu người.

Việt Nam từng được quốc tế ghi nhận về những kết quả quan trọng trong thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, nhất là xóa đói, giảm nghèo. Bài học có giá trị ở đây không phải sao chép một mô hình, mà là sự kết hợp giữa quyết tâm chính trị, chính sách nhất quán, huy động toàn xã hội và việc lấy cải thiện đời sống nhân dân làm chuẩn mực. Với văn hóa cũng vậy: Muốn truyền cảm hứng cho thế giới, trước hết phải tạo ra những thay đổi mà người dân Việt Nam có thể cảm nhận được trong trường học, làng quê, đô thị, nơi làm việc và trên không gian số.

Thành công lớn nhất của sáng kiến không chỉ được đánh giá vào năm 2036 bằng bao nhiêu hội nghị đã tổ chức hay bao nhiêu văn kiện được ban hành. Điều đáng mong đợi hơn là một thế hệ trẻ được tiếp cận văn hóa đầy đủ hơn; những di sản được trao truyền bền vững hơn; người làm sáng tạo được sống tốt hơn bằng tài năng; những cộng đồng yếu thế có tiếng nói mạnh mẽ hơn; và những quyết định phát triển ngày càng biết tôn trọng phẩm giá, bản sắc, hạnh phúc của con người.