Từ sân khấu đến không gian di sản

Hơn 1.200 chỗ ngồi của Rạp Xiếc Trung ương liên tục kín kể từ khi vở “Sơn Thần Thủy Quái” công chiếu từ cuối tháng 9-2026. Sức hút của tác phẩm không chỉ đến từ câu chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh quen thuộc được kể lại bằng ngôn ngữ xiếc hiện đại, mà còn cho thấy tiềm năng của sự kết hợp giữa nghệ thuật biểu diễn và công nghệ số. Được biết, Liên đoàn Xiếc Việt Nam phối hợp với các doanh nghiệp LumiShow và VietArt xây dựng hệ thống hình ảnh, đồ họa và không gian nghệ thuật số cho vở diễn. Công nghệ 3D Mapping, AI đồ họa, sân khấu nước, âm thanh và ánh sáng được kết hợp với phần trình diễn của khoảng 40 nghệ sĩ. Cùng đội ngũ kỹ thuật, hậu cần, tổng số nhân sự tham gia vượt 60 người.

Từ câu chuyện này có thể thấy, sự tham gia của doanh nghiệp không đơn thuần là cung cấp thiết bị hay tài trợ kinh phí. Năng lực công nghệ, sản xuất và tổ chức của khu vực tư nhân có thể bổ sung cho chuyên môn nghệ thuật của đơn vị công lập, tạo nên sản phẩm mới và mở rộng khả năng tiếp cận khán giả.

Vở xiếc "Sơn Thần Thủy Quái", sản phẩm hợp tác giữa Liên đoàn Xiếc Việt Nam và doanh nghiệp. Ảnh: Lumi Show 

Trước đó, tại Triển lãm “Dòng chảy sáng tạo” năm 2026 ở các không gian văn hóa tại số 22 Hàng Buồm và số 50 Đào Duy Từ, tác phẩm đa phương tiện “Hộp ký ức” của học viên Lê Đăng Ninh sử dụng công nghệ mapping để tái hiện lịch sử, trầm tích văn hóa của di tích qua hình ảnh và con chữ trên văn bia gây chú ý, thu hút người xem. Dự án được Công ty TNHH CYMK hỗ trợ thiết bị công nghệ thông qua Đại học Quốc gia Hà Nội. Nhà sáng tạo Lê Đăng Ninh dự kiến phát triển bản thử nghiệm thành các mô hình trải nghiệm sáng tạo tại nhiều không gian di tích, với mức phí hợp lý. Anh nhìn nhận đây có thể trở thành sản phẩm văn hóa mà công chúng sẵn sàng chi trả để trải nghiệm.

Hai câu chuyện, một ở sân khấu biểu diễn, một ở không gian di sản, cho thấy hợp tác giữa đơn vị văn hóa, doanh nghiệp và người sáng tạo đang mở rộng cả về hình thức lẫn mục tiêu. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ: Hợp tác sản xuất, tài trợ hay cung cấp công nghệ chưa mặc nhiên là dự án PPP theo nghĩa pháp lý. Đây là những mô hình kết nối nguồn lực có thể tạo tiền đề cho cơ chế hợp tác dài hạn hơn.

Chính sách mở đường, tháo gỡ điểm nghẽn

Trên thực tế, khung pháp lý cho hợp tác PPP trong lĩnh vực văn hóa đang ngày càng hoàn thiện. Ở cấp quốc gia, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư năm 2020 và Luật Di sản văn hóa năm 2024 là những nền tảng quan trọng.

Ở góc độ rộng hơn, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt ra yêu cầu huy động nguồn lực xã hội, thúc đẩy công nghiệp văn hóa và phát huy giá trị văn hóa trong phát triển đất nước. Gần đây, dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đã được đưa ra lấy ý kiến và đang được hoàn thiện, dự kiến thông qua sắp tới.

Với Hà Nội, Luật Thủ đô số 02/2026/QH16, có hiệu lực từ ngày 1-7-2026, tạo thêm dư địa để thành phố chủ động xây dựng, thí điểm cơ chế, chính sách phù hợp với yêu cầu phát triển riêng. Hà Nội cũng đặt mục tiêu đưa công nghiệp văn hóa đóng góp 10% GRDP vào năm 2030. Điều này càng đòi hỏi những mô hình hợp tác có khả năng chuyển ý tưởng sáng tạo thành sản phẩm, dịch vụ và thị trường.

Theo TS Phạm Minh Quân, giảng viên Trường Đại học Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật (Đại học Quốc gia Hà Nội), trên thực tế, khoảng cách giữa chủ trương và thực tiễn vẫn còn. “Khung pháp lý PPP hiện chủ yếu được thiết kế cho các dự án hạ tầng, trong khi sản phẩm văn hóa tạo ra những giá trị khó lượng hóa như bản sắc, tri thức, trải nghiệm và sức sáng tạo. Nếu chỉ đánh giá hiệu quả qua doanh thu, nhiều giá trị cốt lõi của dự án văn hóa có thể bị bỏ qua”, TS Phạm Minh Quân nhấn mạnh.

Trong khi đó, điểm nghẽn trong hợp tác công-tư ở lĩnh vực văn hóa hiện nay không chỉ nằm ở khả năng huy động vốn mà còn ở cách tổ chức hợp tác. Doanh nghiệp cần biết mình được khai thác nguồn lực nào, quyền và nghĩa vụ ra sao, doanh thu được phân chia thế nào, rủi ro được xử lý bằng cơ chế gì. Cơ quan quản lý phải bảo đảm tài sản công được sử dụng minh bạch, di sản được bảo vệ và người dân tiếp tục được thụ hưởng giá trị văn hóa.

Một vấn đề khác là năng lực của doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp văn hóa có quy mô vừa và nhỏ, khó theo đuổi dự án dài hạn nếu thiếu cơ chế hỗ trợ phù hợp. Tâm lý e ngại thương mại hóa cũng khiến việc hợp tác đôi khi chưa được nhìn nhận như một phương thức phát huy giá trị, mà chủ yếu như nguy cơ đối với tính nguyên bản của văn hóa.

TS Phạm Minh Quân cho rằng: “Vấn đề không nằm ở việc doanh nghiệp tham gia, mà ở cách thiết kế cơ chế quản trị để vừa bảo đảm lợi ích công, vừa khuyến khích sáng tạo và phát triển thị trường văn hóa”.

Từ góc độ doanh nghiệp, TS Phùng Thị Yến, giảng viên Trường Luật và Khoa học chính trị, Trường Đại học Ngoại thương, nhấn mạnh Luật Phát triển công nghiệp văn hóa khi được ban hành sẽ thực sự “mở đường” cho doanh nghiệp công nghiệp văn hóa, rõ nhất là cơ chế thừa nhận, định giá và thế chấp tài sản trí tuệ; cùng với các ưu đãi về đất đai, hạ tầng dành cho cụm, tổ hợp công nghiệp sáng tạo.

Theo TS Phùng Thị Yến, để Luật thật sự hiệu quả, cần có bộ tiêu chí định giá tài sản trí tuệ minh bạch, cơ chế chia sẻ rủi ro tín dụng và quy trình xét duyệt thuận lợi. Đồng thời, việc bảo vệ bản quyền phải được thực thi nghiêm túc. “Nếu một sản phẩm thành công nhưng dễ dàng bị sao chép, doanh nghiệp sẽ khó có động lực bỏ vốn cho những dự án dài hạn”, TS Phùng Thị Yến phân tích.

Từ mô hình riêng lẻ đến hệ sinh thái ở Hà Nội

Với lợi thế về di sản, thiết chế văn hóa, cơ sở đào tạo, đội ngũ nghệ sĩ và doanh nghiệp sáng tạo, Hà Nội có điều kiện phát triển những mô hình hợp tác công tư đa dạng. Thành phố có thể ưu tiên các lĩnh vực có khả năng kết nối nhiều chủ thể như không gian sáng tạo, nghệ thuật biểu diễn, thiết kế và phát huy giá trị di sản. Tuy nhiên, theo TS Phạm Minh Quân, mỗi lĩnh vực cần cách tiếp cận riêng. Với di tích, phải đặt yêu cầu bảo tồn và quyền tiếp cận của cộng đồng lên hàng đầu. Với nghệ thuật biểu diễn, cần cơ chế khuyến khích đầu tư sản xuất, đổi mới công nghệ và phát triển khán giả. Với các ngành dựa trên tài sản trí tuệ, bảo vệ bản quyền và khả năng khai thác thương mại hợp pháp là điều kiện để doanh nghiệp đầu tư lâu dài.

“Nhà nước cần giữ vai trò kiến tạo thể chế, bảo đảm lợi ích công và giám sát; doanh nghiệp phát huy năng lực về công nghệ, quản trị và thị trường; nhà trường, nghệ sĩ và cộng đồng đóng góp tri thức, sáng tạo và bản sắc”, giảng viên Phạm Minh Quân nói.

Câu chuyện “Hộp ký ức” hay “Sơn Thần Thủy Quái” đến”, những mô hình bước đầu cho thấy khi các nguồn lực được kết nối, văn hóa có thể tạo ra những sản phẩm mới mà một chủ thể khó thực hiện đơn lẻ. Thách thức của Hà Nội là đưa sự hợp tác ấy từ những dự án riêng lẻ thành cơ chế ổn định, minh bạch và có khả năng nhân rộng. Khi đó, PPP mới thực sự trở thành công cụ phát triển công nghiệp văn hóa, thay vì chỉ dừng ở những thử nghiệm giàu tiềm năng.