Vâng, hầu hết kỳ tích của thế giới này, một khi chúng siêu thực như của người ngoài hành tinh thì đa phần là có nguyên nhân từ tình yêu hoặc niềm tin tôn giáo.
45.000m2 bích họa cổ, xếp “nối đuôi nhau”... dài hơn 30km!
Đôn Hoàng. Sân bay bé xíu, dân cư thưa thớt. Sa mạc thống trị làm vắng tiệt bóng cây xanh. Nhiệt độ có lúc âm 7 độ C, cái lạnh như kim châm. Leo mấy tiếng đồng hồ, mũi, miệng tranh nhau thở lên đỉnh quan ải cực Tây vòi vọi của Vạn Lý Trường Thành. Gió hun hút, ngoái xuống, nơi này thiên nhiên lại nể nang ban cho một thảm rừng với lá vàng miên man dưới thung lũng.
 |
| Tượng Phật trong hang Mạc Cao, vùng Đôn Hoàng, tỉnh Cam Túc, Trung Quốc. |
Đôn Hoàng thật sự là một ốc đảo nằm ở điểm giao thoa giữa hai sa mạc lớn “khét tiếng” của thế giới (một sa mạc đã quá mệt, giờ là hai sa mạc cùng lúc), đó là sa mạc Gobi và sa mạc Taklamakan. Là sa mạc lớn thứ năm thế giới, lớn nhất châu Á, Gobi trùm lên lãnh thổ hai quốc gia Mông Cổ và Trung Quốc. Những ngày phiêu du Mông Cổ, tôi đã nhiều lần ước ao mình sẽ đi về phía Nam và gặp Gobi ở Đôn Hoàng, địa danh huyền thoại của con đường tơ lụa, nơi có những mỹ nữ thánh thần, vắt cây đàn ra sau lưng mình và rình rang tích tịch tình tang. Giờ đây, tôi chảy máu cam vì lạnh và hanh ở âm 7 độ C trong mùa muôn cây đổ sắc vàng lóng lánh và đứng trước bức tượng khổng lồ “nàng”, biểu tượng “thiên nữ tán hoa” của thành phố Đôn Hoàng.
Một cái nhìn tổng thể, có thể thấy, con đường tơ lụa ra đời trước Công nguyên, bắt đầu từ trung tâm Trường An, kéo hơn 6,4 nghìn cây số (có sách nói 9 nghìn cây số, tùy theo cung), qua Trung Á, Trung Đông tới tận Constantinopolis-thủ đô của đế quốc Đông La Mã cổ xưa (ngày nay là Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ) rồi vòng tới Italy... Tôi đến Istanbul thời mới và hơn một lần đã thốt lên, cách kinh doanh, sự lanh lợi, tháo vát, tài hoa của họ đúng là xứng danh con cháu của các thương nhân lạc đà.
Nhiều nghìn cây số của con đường tơ lụa đã giúp giao thương Á-Âu, phương Đông và phương Tây, vô số sản phẩm, kinh nghiệm, dược liệu, tơ lụa, văn hóa, tôn giáo, kiến trúc, âm nhạc, vũ điệu, hôn nhân... “chảy” qua lại, hòa trộn với nhau, nâng bước cho nhau. Trải qua hơn 1.500 năm, bao nhiêu thế hệ thương nhân đã dừng chân tại cửa ngõ, “thủ phủ” quan trọng có tên là Đôn Hoàng (địa danh được đặt từ thời Hán Vũ Đế, tức là từ trước Công nguyên).
Dừng chân để chọn và đổi lạc đà, mà mỗi đoàn cả trăm, cả nghìn con lạc đà chứ ít ỏi gì. Đôn Hoàng, vừa như nơi quán dịch nghỉ chân dưỡng sức, vừa như trạm xăng tiếp nhiên liệu, vừa là điểm hẹn lý tưởng cho mọi nhu cầu cá nhân và thương mại, không ngoại trừ cả hẹn hò, yêu đương, kết hôn, nâng chén tiêu sầu và rút kiếm khắc đá đề thơ trên vách đá. Đôn Hoàng giống như một thành phố giao lộ, đáp ứng mọi nhu cầu, kể cả việc cầu cúng, lễ lạt, xin Phật, trời phù hộ cho mình và đoàn tùy tùng trên con đường cưỡi lạc đà hoặc đi bộ mà ai cũng biết là “lành ít dữ nhiều”. Họ cũng cần phải cầu Phật (nếu có cơ sở tôn giáo thờ Chúa, thờ Thánh ở đó họ cũng cầu) phù hộ cho ông bà, cha mẹ, vợ con, thân nhân của họ ở quê nhà xa lắc, “bặt vô âm tín”, “bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền”.
 |
| Sa mạc vùng Đôn Hoàng, tỉnh Cam Túc, Trung Quốc. |
Qua sa mạc, dài nhiều nghìn cây số, nghìn năm xa xôi, tăm tối, khắc nghiệt thuở trước; họ còn phải thuê các toán thiện chiến bảo vệ trước bao nhiêu hiểm họa giặc giã, cướp bóc, những mưu hèn kế bẩn nhắm tới vô số của cải, vàng bạc, châu báu của giới thương nhân xuyên lục địa.
Giữa vùng sa mạc Taklamakan, sự sầm uất có quy luật của Đôn Hoàng đã khiến gần 500 hang thờ Phật, hang ngồi thiền và lưu giữ kinh sách ra đời. Nơi đây trở thành kho báu các giá trị liên quan đến đạo Phật lớn nhất thế giới, đấy là chưa kể tới nhiều kỷ lục khác nữa.
|
Cách trung tâm thành phố Đôn Hoàng khoảng 25km, quần thể hang động Mạc Cao với gần 500 hang thờ Phật (có tài liệu nói 700 hang, có thể tính cả nhiều hang chưa được khai quật). Tổng số bức tranh thờ trong các hang này, theo một nghiên cứu là khoảng 45.000m2, nếu xếp “nối đuôi nhau”, chúng sẽ dài tới hơn 30km. Quả là kỳ quan của lòng mộ đạo vô biên.)
|
Chùm chìa khóa to đùng ở kho báu Phật giáo lớn nhất thế giới
Anh chàng hướng dẫn viên của khu di sản thế giới hang Mạc Cao đẹp trai, mặc vest, tay cầm chùm chìa khóa dễ tới cả trăm chiếc, đến mỗi hang là sờ sờ, nắn nắn mở cửa, dẫn khách vào thăm. Cao dỏng và thanh tú, anh phát cho tôi một cái tai nghe và bấm sẵn tần số tiếng Việt. “Đừng đi xa tôi quá, sóng sẽ yếu và mất tín hiệu, còn quý vị cứ ngắm cảnh và cũng có thể không cần nhìn vào hướng dẫn viên, tất cả thông điệp sẽ vang lên qua tai nghe cá nhân này”, anh chàng nhỏ nhẹ.
Bàn tay của anh để trước các loại đèn pin công suất khác nhau (để sử dụng tùy theo tượng, tranh ở gần hay xa chỗ người chiếu đèn) rồi cứ thế chỉ, khoanh tròn, nhấp nháy ánh sáng, nhằm tập trung sự chú ý đúng chỗ và hiệu quả. Ví dụ, khi nói về một bức tranh mênh mông ở trên nóc của một hang động, trên đó có hàng trăm gương mặt được vẽ từ 1.000 năm trước, để du khách biết mình đang nói về gương mặt thần, Phật nào trong số đó, chàng hướng dẫn viên đẹp trai sẽ dùng ngón tay trỏ và ngón tay cái khoanh thành hình tròn trước ánh đèn pin, rồi bật đèn. Trên trần nhà, vòng đen là bóng ngón trỏ và ngón cái của anh sẽ bao quanh từng gương mặt người trong tranh để tiện thuyết minh.
 |
| Vùng Đôn Hoàng, tỉnh Cam Túc, Trung Quốc. |
Gần 500 hang động luôn được cửa khóa then cài bởi đây là kho tàng với vô số “báu vật của nhân loại” về các khía cạnh tri thức cổ và tôn giáo (đủ lĩnh vực, kể cả tài liệu toán học) đã được phát hiện, tôn vinh. Cẩn tắc vô ưu là đúng! Anh bạn trẻ cầm theo cả mớ chìa khóa sắt to nặng, vừa đi vừa giới thiệu di sản. Đến mỗi cửa động, anh lại kỳ cạch mở cửa, đeo chìa khóa ở hông, dẫn khách vào, lúc ra lại đóng cửa thật kỹ. Camera an ninh khắp nơi.
Kho báu nghệ thuật Phật giáo và di sản thế giới trên nhiều mặt này đã ra đời như thế nào? Sử liệu chép: Nơi này có các “báo mộng” của sự thiêng liêng đặc biệt kéo dài. Nhiều đêm, người ta thấy vô số đức Phật hiện ra với ánh hào quang tỏa rạng trong đêm trường. Một nhà sư tên là Lạc Tôn bắt đầu thành tâm khoét hang làm nơi ngồi thiền, rồi cùng học trò trang trí bích họa, đẽo đá làm tượng Phật, Bồ Tát, Kim Cương. Từ đó, dân chúng, các thương nhân, người mộ đạo khắp nơi tìm về, cùng tạo tác những thứ mà ngày nay chúng ta gọi là Di sản văn hóa thế giới: Hệ thống hang Phật Mạc Cao.
|
Sa mạc cả triệu ki-lô-mét vuông, khắc nghiệt tới mức nóng có thể lên tới 45 độ C vào mùa hè và lạnh âm 40 độ C vào mùa đông. Nếu không đem đồ thờ và báu vật vào hang như ở Mạc Cao-một giải pháp hoàn hảo (có thể là duy nhất) thì thử hỏi, trải qua cả nghìn năm đến giờ, mọi thứ có thành tro bụi cả rồi không?
|
Khi “Bồ Tát và Kim Cương trong động cổ” bất ngờ nhảy múa
Nói như trên để thấy, nhu cầu tâm linh luôn là thứ da diết, thời nào cũng thế. Bằng chứng là khi đường thủy phát triển, con đường tơ lụa nối từ châu Á sang châu Âu (và ngược lại), qua các sa mạc kiểu này không còn cần thiết nữa, lập tức di sản Phật động Mạc Cao gần 500 hang bị bỏ hoang, cho đến tận khoảng 400 năm sau, khi các nhà khảo cổ học tìm thấy, khai quật, công bố.
Và dĩ nhiên, nhiều người sớm thấy giá trị của cổ vật độc đáo trong hang động Mạc Cao, đã lấy đi quá nhiều. Báu vật của "ngàn Phật động" tứ tán khắp thế giới. Trung Quốc gần đây đã bỏ ra số tiền khổng lồ hàng trăm triệu USD nhằm thực hiện dự án chuộc các cổ vật để “châu về Hợp Phố”. Nhưng mà khó lắm, bởi tài liệu đã chỉ rõ, chúng đang nằm ở cả Bắc Kinh, London, Paris, Berlin... và những nơi nào nữa thì có trời mà biết được.
Người Trung Quốc đầu tư số kinh phí và nhân lực khổng lồ (nhiều tài liệu nói là hàng tỷ USD) để làm “sống dậy” hình ảnh, tư liệu, sự độc đáo bậc nhất thế giới của con đường tơ lụa cổ. Việc quảng bá thượng thặng, khách nội địa gần tỷ rưỡi dân đã đủ “ngựa xe như nước, áo quần như nêm”. Thêm xiết bao khách quốc tế.
Họ sử dụng nghệ thuật của âm thanh, ánh sáng, công nghệ trình diễn và nghệ thuật 3D, các ứng dụng trí tuệ nhân tạo một cách rất tay chơi, chịu chi. Chúng tôi được đưa vào một sảnh lớn được trang trí cầu kỳ, đậm chất Phật giáo, với đức Phật, các vị Bồ Tát, Di Lặc, Kim Cương, các vị cơ bắp như vệ sĩ của cõi Phật, các tiên nữ xênh xang gợi cảm.
 |
| Cô gái vùng Đôn Hoàng, tỉnh Cam Túc, Trung Quốc. |
Có đến cả trăm diễn viên trong một buổi biểu diễn kinh điển do phía Đôn Hoàng thực hiện. Họ khéo léo biến tất cả chương trình “đậm đặc” kiến thức và xúc cảm về câu chuyện của hang động nghìn tượng Phật, vạn bích họa cổ. Đặc biệt là nhiều người mang trang phục, nhạc cụ, phong cách, gương mặt, màu da đa dạng, hòa trộn, họ đến từ cả châu Âu, Trung Đông, Trung Á, Thổ Nhĩ Kỳ và các quốc gia khác... Họ cùng nhảy múa, tham gia các trò bay lượn, hát hò tưng bừng, xôm tụ.
Cái giỏi nhất là việc họ đã đưa giá trị của hơn 1.500 năm lịch sử của khu vực Đôn Hoàng, con đường tơ lụa, hệ thống hang động di sản văn hóa thế giới Mạc Cao vào thành video clip, phim tư liệu với sân khấu ứng dụng công nghệ hiện đại bậc nhất thế giới. Những diễn viên đứng xuống sân khấu chụp ảnh chung với du khách, trong trang phục của thời đan xen văn hóa Á-Âu. Nhiều bức tường được các máy chiếu siêu hiện đại “đính” những bức hình chất lượng tốt nhất, được quay, chụp bằng tay nghề rất cao, gợi lại không gian với những văn tự cổ chữ Hán, những bức tượng, bích họa xa xưa đôi khi sứt sẹo, ố màu, nhưng có lẽ cũng vì thế mà vẻ đẹp thêm nhuốm màu hoang phế nao lòng.
Bất ngờ hơn, các vị “tượng cổ” cơ bắp, hốc mắt, hốc mũi sâu hoắm, dũng mãnh, trong ánh sáng mê hoặc ảo diệu, trong tiếng nhạc kỳ bí vừa Trung Đông lại vừa Á Đông, vừa Trung Quốc lại vừa Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ... bỗng rùng rùng chuyển động. Có vị khoa chân múa tay chậm rãi như trong thước phim quay chậm, như phô bày quyền uy tối thượng, lại như hăm dọa. Có vị từ trong hốc tường lừ lừ bước ra, cơ bắp cuồn cuộn, tay chân múa các thế võ cổ xưa chậm rãi. Có tượng vị “nữ Bồ Tát trong động cổ” với ánh sáng yếu ớt liêu trai, kẻ hầu người hạ (các vị tượng nam, nữ) vây quanh. Đang nghiêm trang, cổ kính như bụi phủ từ hơn 1.500 năm trước, bỗng dưng nhạc tấu lên, “nữ Bồ Tát” và tiên đồng, ngọc nữ theo đó rùng rùng sống dậy, cựa quậy, cùng múa hát tưng bừng.
Ngoài phòng chiếu phim tư liệu, với hình ảnh quay thật sự từ gần 500 hang động tràn ngập tranh, tượng, các bản kinh và thư tịch cổ, ban tổ chức còn đưa chúng tôi vào “phòng chiếu 360 độ”. Cái nhìn panorama (khung hình rộng, toàn cảnh) rất hoành tráng, nhiều sự sửng sốt. Hiệu ứng khiến khán phòng như trôi trên mây, lao phầm phập về phía sân khấu, nơi đang “trình chiếu” hình ảnh to lớn về các vị tượng cổ, các tiên nữ, những bức tranh xưa cũ của gần 500 hang động thờ Phật ở Mạc Cao. Âm thanh gợi không khí huyền bí, linh thiêng.
 |
| Tác giả bài viết lưu lại khoảnh khắc tại Trung Quốc. |
Hàng nghìn bích họa và tượng Phật trong gần 500 hang động ở Mạc Cao có sự giao lưu đặc biệt về văn hóa, hội họa, nghệ thuật giữa nhiều quốc gia dọc con đường thương nhân cưỡi lạc đà (và đoàn tùy tùng của họ). Ta thấy ở đó rất nhiều bức họa về “thiên nữ tán hoa”, tiên nữ và dàn nhạc đủ đàn tranh, đàn sắt, đàn tam, bài tiêu, tỳ bà, sênh... thể hiện một dấu ấn quan trọng của lịch sử tạo hình dân gian và bác học trong các giai đoạn ra đời trải dài cả thiên niên kỷ của hệ thống hang Mạc Cao.
Khởi đầu từ thời Hán Vũ Đế (khoảng thế kỷ 2 trước Công nguyên), việc bảo vệ miền phên giậu phía Bắc của Trung Quốc ngày nay trước các “chiến binh du mục” đã được đặc biệt chú ý. Vị hoàng đế đã bắt đầu công cuộc mở đường cho phát triển kinh tế, giao lưu với phương Tây qua cái mà ngày nay chúng ta gọi là con đường tơ lụa.
Bây giờ, người Trung Quốc đưa chúng tôi tới thăm tượng Hán Vũ Đế giữa sa mạc thuộc tỉnh Cam Túc, cách trung tâm thành phố Đôn Hoàng không xa. Chắc đó là bức tượng “lạ” nhất tôi từng gặp, liên quan tới một vị vua khả kính. Tượng ngài hiện diện trên mặt đất, chỉ có đúng cái đầu, bộ râu chạm đất, đội thêm cái mũ. Cổ ngài “đặt” thẳng lên một gò đất. Gò đất thấp tới mức đứng trên mặt đường nhựa rộng lớn, đi vài bậc cầu thang thì bạn mới xuống tới “thung lũng” có tượng Hán Vũ Đế. Có lẽ đây là một cách tri ân đặc biệt mà người ta dành cho vị hoàng đế, theo ý tưởng độc đáo “trần gian có một” của kiến trúc sư nào đó.
Với sự giao thương Á-Âu cổ xưa từ hơn 1.500 năm trước đã tạo cho sa mạc Gobi và sa mạc Taklamakan ở khu vực Đôn Hoàng những công trình kiến trúc, tôn giáo, văn hóa, lịch sử... “kết tinh giá trị của nhiều quốc gia mà con đường tơ lụa đi qua”. Ở đó có sự chuyển hóa, tiếp thu, kế thừa tinh tế giữa nghệ thuật của Trung Quốc các thời đại (suốt hàng nghìn năm) với mỹ thuật Phật giáo Ấn Độ, phong cách vùng Trung Á không lẫn vào đâu được. Ở đó có cả những bộ kinh A Di Đà, Pháp hoa được vẽ thành tranh, người ta vẫn gọi là “Biến kinh đồ”.
Chứng kiến buổi biểu diễn hoành tráng, chúng tôi nhìn sân khấu được thiết kế công phu, trong ánh sáng mờ ảo, các “tiên nữ” (thiếu nữ) áo xống tinh khôi, mớ ba mớ bảy, xinh đẹp tuyệt trần, bay lượn từ trần nhà hát, từ các bên cánh gà ra, chao liệng cùng một đám mây trắng (dải lụa trắng) mơ màng rồi biến mất.
Từ năm 1987, hệ thống "ngàn Phật động" ở Mạc Cao đã được Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Đến đây, bạn sẽ thay đổi suy nghĩ về những điều khó tin nhưng có thật ở đời. Niềm tin tôn giáo cùng sức sáng tạo của trí tuệ và sức mạnh thể chất của con người, trải hàng nghìn năm lịch sử, là một cái gì đó phi thường rất dễ khiến ta nghĩ là có người ngoài hành tinh từng xuất hiện, tạo tác rồi can thiệp quá sâu vào lịch sử trái đất.