Quãng đường gần 300km không quá xa nếu nhìn trên bản đồ, nhưng thực tế, chúng tôi phải đi gần trọn một ngày. Có những đoạn đường uốn lượn men theo sườn núi, một bên là vách đá dựng đứng, bên kia là vực sâu hun hút. Sương núi dày đặc khiến chiếc xe phải bò từng mét.

Bộ đội Đồn Biên phòng Cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn (Ban chỉ huy Bộ đội Biên phòng, Bộ CHQS tỉnh Nghệ An) cùng các nhà tài trợ trao áo ấm tặng các cháu nhỏ trên địa bàn xã Nậm Cắn. Ảnh: VĂN LÔ

Trước khi vào bản Huồi Pốc, chúng tôi đã liên hệ với Đồn Biên phòng Cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn (Ban chỉ huy Bộ đội Biên phòng, Bộ CHQS tỉnh Nghệ An). Thượng tá Hồ Mạnh Hùng, Chính trị viên Đồn có thâm niên hàng chục năm gắn bó với miền biên giới phía Tây Nghệ An thông tin, Huồi Pốc được hình thành từ nhiều thập niên trước, khi các dòng họ người Mông di cư lên vùng cao để tìm đất sinh sống. Những năm đầu lập bản, cuộc sống của người dân gần như tách biệt với bên ngoài. Đường sá chưa có, bà con đi bộ băng rừng, vượt suối hằng ngày để trao đổi lương thực, muối, vải... Cái đói, cái nghèo bám riết lấy bản làng qua nhiều thế hệ. Chiến tranh đi qua, hòa bình lập lại, nhưng Huồi Pốc vẫn là vùng “lõi nghèo” của Nậm Cắn. Nói rồi, anh cử Thiếu tá Lô Văn Hiệp, Đội trưởng Đội Vận động quần chúng đưa chúng tôi vào Huồi Pốc.

Chiều muộn, khi ánh nắng cuối ngày chỉ còn le lói trên những đỉnh núi cao, bản Huồi Pốc hiện ra trong màn sương dày đặc, nằm nép mình giữa trùng điệp núi rừng, giáp đường biên giới Việt-Lào. Nơi đây, địa hình chia cắt, đường đi vào bản bò qua dốc núi cao. Sương mù, đường ẩm ướt, một bên là vách núi, một bên là vực thẳm. Nhìn những nếp nhà đơn sơ nằm rải rác bên đường, anh Hiệp giới thiệu với chúng tôi, ở Huồi Pốc hiện nay 100% là đồng bào dân tộc Mông, gắn bó với núi rừng từ nhiều đời. Trước đây, tập quán canh tác chủ yếu của bà con là phát nương làm rẫy, trồng ngô, sắn, phụ thuộc vào thời tiết. Được mùa thì đủ ăn, mất mùa là đói. Có những mùa giáp hạt, cả bản phải ăn rau rừng cầm hơi. Trẻ em đến trường không đủ áo ấm để mặc, nhiều em bỏ học giữa chừng vì nhà quá khó khăn. Bài toán sinh kế luôn là nỗi trăn trở lớn nhất đối với chính quyền địa phương và Bộ đội Biên phòng đứng chân trên địa bàn.

Nét mặt trầm ngâm, anh Hiệp nhớ lại: “Có thời điểm, chúng tôi lên bản công tác, chứng kiến bà con thiếu ăn, thiếu mặc mà không khỏi xót xa. Giữ biên giới vững chắc thì phải làm cho dân yên, mà muốn dân yên thì phải giúp dân có cái ăn, cái mặc, có sinh kế ổn định”. Từ trăn trở ấy, nhiều mô hình hỗ trợ phát triển kinh tế đã được Đồn Biên phòng Cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn nghiên cứu, triển khai. Trong đó, mô hình trồng cây bo bo được xem là hướng đi phù hợp với điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng và trình độ canh tác của đồng bào ở Huồi Pốc.

Theo anh Hiệp, bo bo là loại cây ít sâu bệnh, thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất ổn định, có thể sử dụng làm thảo dược. Trước đây, người dân trong bản chỉ trồng nhỏ lẻ, manh mún, không chú trọng kỹ thuật chăm sóc nên năng suất thấp. Khi anh Hiệp cùng đồng đội đến vận động bà con trồng trên diện tích lớn hơn, hướng dẫn quy trình, kỹ thuật mới, không ít người còn e dè, lo lắng. Thói quen canh tác lâu đời khiến bà con ngại thay đổi. Do vậy, anh Hiệp cùng đồng đội phải kiên trì gõ cửa từng nhà, giải thích cặn kẽ, hỗ trợ ngày công và trực tiếp hướng dẫn người dân kỹ thuật trồng, chăm sóc.

Đặc biệt, Đồn Biên phòng Cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn chọn gia đình ông Lầu Lìa Phổng làm điểm thực hiện "Mô hình trồng cây dược liệu bo bo". Trước đây, gia đình ông Phổng là hộ nghèo nhiều năm của bản Huồi Pốc. “Khi Bộ đội Biên phòng nói hỗ trợ ngày công và kỹ thuật trồng 2ha cây bo bo, tôi vừa mừng vừa lo. Mừng vì có sự quan tâm giúp đỡ của bộ đội, nhưng cũng lo không biết trồng, chăm sóc theo kỹ thuật mới kết quả có đạt không, có phải là cách để thoát nghèo không”, ông Phổng nhớ lại. Nhưng rồi, trước sự động viên, cam kết đồng hành của cán bộ Đồn Biên phòng, ông quyết định thử sức.

Từ ngôi nhà gỗ nhỏ của gia đình ông Lầu Lìa Phổng, chúng tôi theo chân ông trên con đường mòn dẫn ra nương bo bo. Con đường uốn lượn giữa những sườn đồi thoai thoải, một bên là vách đất đỏ còn in dấu cuốc, bên kia là thung lũng mờ sương. Dưới chân, đất ẩm mềm ra sau những cơn mưa cuối đông, in rõ từng dấu ủng đã mòn gót của người đàn ông Mông quanh năm gắn bó với nương rẫy. Ông Phổng đi trước, bước chân chậm rãi nhưng vững vàng. Thi thoảng, ông dừng lại, đưa tay chỉ về những khoảnh đất đã được cải tạo, giọng trầm xuống như kể chuyện đời mình: “Chỗ này trước chỉ trồng ngô, sắn thôi, đất xấu, làm nhiều mà chẳng được bao nhiêu”. Rồi ánh mắt ông bỗng sáng lên khi nương bo bo hiện ra trước mặt.

Giữa triền đồi, những hàng bo bo thẳng lối, xanh mướt, thân cây chắc khỏe. Trong làn gió núi se lạnh, cả nương bo bo lay động nhè nhẹ như mang theo một nhịp sống mới. Ông Phổng đứng lặng hồi lâu, ánh mắt không giấu nổi niềm xúc động. “Tôi không nghĩ cây lại tốt thế này”-ông nói khẽ-“Bộ đội Biên phòng hướng dẫn, mình làm theo, cây lớn lên từng ngày. Nhìn nó lớn, tôi mừng lắm!”.

Ông kể, những ngày đầu trồng bo bo, sáng nào ông cũng ra nương từ sớm, xem cây lên mầm, xem lá có bị sâu không. Mỗi lần thấy cây bén rễ, vươn cao, trong lòng ông lại nhen lên niềm hy vọng. Đến khi thu hoạch vụ đầu tiên, bán được bo bo, cầm hơn 30 triệu đồng trong tay, ông mới thực sự tin rằng gia đình mình đã tìm được “cái cần câu” để thoát nghèo. “Nhờ cây bo bo mà tôi có tiền cho con đi học, có tiền mua thêm trâu, bò”, ông Phổng nói, bàn tay chai sần vuốt nhẹ thân cây như vuốt ve một tài sản quý giá. Với ông, nương bo bo không chỉ là ruộng vườn mà là điểm tựa kéo kinh tế gia đình đi lên, là minh chứng cho một con đường mới được mở ra đúng hướng mà ông và bà con Huồi Pốc đang đi.

Đến nay, diện tích trồng bo bo của gia đình ông Phổng được mở rộng thêm. Từ đó, mỗi năm, gia đình ông có thêm thu nhập để tích cóp. Điều khiến ông tự hào nhất là năm 2026 này, gia đình chuẩn bị xây dựng một ngôi nhà mới kiên cố hơn, giấc mơ mà trước đây ông chưa dám nghĩ tới. 

Không riêng gia đình ông Lầu Lìa Phổng, đời sống của nhiều hộ dân trong bản Huồi Pốc cũng đang dần đổi thay nhờ cây bo bo. Những triền nương trước kia cằn cỗi nay phủ một màu xanh hy vọng. Từ chỗ sản xuất manh mún, tự cung tự cấp, bà con từng bước làm quen với tư duy sản xuất hàng hóa, biết tính toán, tích lũy cho tương lai.

Những ngày giáp Tết Bính Ngọ, Huồi Pốc rộn ràng hơn thường lệ. Trên con đường đất đỏ quanh co vào bản, tiếng cười trẻ nhỏ vang lên. Trong mỗi nếp nhà, khói bếp lan tỏa, hòa cùng mùi bo bo rang, mùi ngô mới, hương vị rất riêng của mùa xuân vùng biên.

Xuân ở Huồi Pốc không chỉ đến từ sắc đào rừng bung nở bên hiên nhà, từ tiếng khèn Mông ngân nga trong sương sớm mà còn đến từ những đổi thay thầm lặng nhưng bền bỉ. Đó là niềm tin của người dân vào ngày mai, là sự gắn bó keo sơn giữa quân và dân nơi phên giậu Tổ quốc.