Đồng hành với mỹ thuật hiện đại

Trong hệ sinh thái nghệ thuật, gallery (không gian nghệ thuật/phòng tranh) đóng vai trò như một cỗ máy duy trì nhịp đập của thị trường, đồng thời kiến tạo các giá trị thẩm mỹ và định hình lịch sử nghệ thuật. Gallery có thể tích hợp nhiều bộ môn nghệ thuật, bên cạnh tác phẩm mỹ thuật (tranh, tượng) còn tích hợp trưng bày tác phẩm nhiếp ảnh, sắp đặt, trình diễn, tổ chức tọa đàm văn nghệ, thực hành giáo dục nghệ thuật... 

Công chúng tham quan Triển lãm "Biên độ tương lai" được tổ chức tại Phòng trưng bày tương lai (Galerie du Futur) nằm trong Trung tâm thương mại Lotte (phường Giảng Võ, TP Hà Nội), tháng 6-2026. Ảnh: ÁNH DƯƠNG

Theo chuyên gia, gallery và bảo tàng đại diện cho hai thiết chế khác biệt nhưng bổ sung chặt chẽ cho nhau. Trong khi bảo tàng vận hành mang tính hệ thống, gắn liền với quá trình nghiên cứu, lưu trữ và diễn giải lịch sử nghệ thuật thì gallery là tổ chức hoạt động linh hoạt. Thiết chế này gắn chặt với nhịp độ của thị trường và sự phát triển của nghệ sĩ, với các chương trình triển lãm thường mang tính ngắn hạn, thay đổi nhanh chóng để phản ánh trực tiếp xu hướng của nghệ thuật đương thời. Ngày nay, khi khái niệm về không gian sáng tạo ngày càng quen thuộc, có tính nội hàm rộng thì gallery cũng được xếp vào một loại hình không gian sáng tạo.  

Nhìn lại chiều dài lịch sử, nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam chính thức đánh dấu bằng sự kiện thành lập Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương vào năm 1925. Dưới sự dẫn dắt của họa sĩ, hiệu trưởng Victor Tardieu và các giảng viên người Pháp, ngôi trường này đã đào tạo nên những danh họa nổi tiếng như: Nguyễn Phan Chánh, Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm... Nếu Nguyễn Phan Chánh mở đường cho nghệ thuật lụa đậm chất phương Đông, nhiều nghệ sĩ khác kết hợp xuất sắc kỹ thuật hội họa hàn lâm châu Âu với tâm hồn bản địa. Có điều, dù tác phẩm vươn đến Pháp, Italy hay Mỹ, Việt Nam thời kỳ này hoàn toàn vắng bóng định chế gallery thương mại chuyên nghiệp.

Bước vào 30 năm kháng chiến (1945-1975) và giai đoạn hậu chiến đến trước năm 1988, mỹ thuật Việt Nam chuyển hướng phục vụ kháng chiến và kiến thiết chủ nghĩa xã hội với bút pháp hiện thực làm chủ đạo, kinh doanh nghệ thuật không tồn tại. Nghệ sĩ muốn bán tranh, tượng chỉ có hai con đường: Bán lại cho bảo tàng của Nhà nước; ngoài ra bán cho một số cá nhân sưu tập. Giai thoại về các họa sĩ thời chiến tranh, bao cấp đổi tranh lấy cà phê, để bây giờ có quán cà phê Lâm (92 Nguyễn Hữu Huân, phường Hoàn Kiếm, TP Hà Nội) trưng bày nhiều tác phẩm giá trị là ví dụ nổi tiếng.

Từ năm 1986, cùng với tư tưởng đổi mới nghệ thuật, khát vọng sống được bằng nghề của họa sĩ xuất hiện. Nhà phê bình mỹ thuật Nguyễn Quân là người tiên phong kêu gọi nghệ sĩ sáng tác, tự trưng bày và tự bán tranh. Triển lãm nhóm của 16 họa sĩ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam vào tháng 10-1989 đã đánh dấu cột mốc các nghệ sĩ tự bỏ tiền túi và tự tổ chức, đánh thức ý thức về tính cá nhân.

Giai đoạn này, gallery manh nha hình thành từ một vài cửa hàng bán hàng lưu niệm cho khách du lịch thuộc các đơn vị nhà nước như gallery số 7 Hàng Khay, cửa hàng bán tranh, bưu thiếp lưu niệm của Xunhasaba (Công ty TNHH Một thành viên Xuất nhập khẩu Sách báo Việt Nam) hay phòng tranh 16 Ngô Quyền... Đến đầu thập niên 1990, các gallery tư nhân tiên phong mới xuất hiện, tiêu biểu là Salon Natasha, thành lập năm 1990 tại Hà Nội bởi nghệ sĩ Vũ Dân Tân và Tiến sĩ Natalia Kraevskaia.

Suốt thập niên 1990, các gallery bùng nổ về số lượng, thu hút đông đảo nhà sưu tập quốc tế và khách du lịch, giúp các họa sĩ nổi danh như Nguyễn Thanh Bình, Thành Chương, Lê Thiết Cương, Hoàng Phượng Vỹ... bán được tác phẩm ra nước ngoài. Tuy nhiên, sự phát triển này mang nhiều yếu tố bề nổi, chưa đặt được nền móng thị trường vững chắc.

Góp phần định hình nghệ thuật đương đại

Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 đã khiến thị trường tranh lưu niệm suy thoái. Quá trình thanh lọc khắt khe thúc đẩy sự ra đời các gallery chuyên nghiệp, tái cấu trúc nền mỹ thuật Việt Nam theo hướng đa tầng và tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế.

Giai đoạn này, Hà Nội tự hào với Art Vietnam Gallery, Ryllega Gallery, Nhà sàn Studio... trong khi TP Hồ Chí Minh nổi lên với Blue Space Art Gallery, Sàn Art, The Factory hay Galerie Quynh... Các gallery ghi dấu ấn nhờ kinh nghiệm quốc tế và nền tảng thẩm mỹ của người sáng lập, mỗi nơi đi theo một hướng phát triển riêng. Như Galerie Quynh ủng hộ tranh trừu tượng Việt Nam, Sàn Art hướng đến nghệ thuật thị giác, lấp đầy những khoảng trống trong sáng tạo nghệ thuật đương đại.

Trong bối cảnh Việt Nam khan hiếm bảo tàng mỹ thuật, các gallery tư nhân đóng vai trò trọng yếu trong việc truyền bá thông tin, tạo ra các diễn đàn nghệ thuật đương đại và là kênh quảng bá nghệ thuật Việt Nam ra thế giới. Gallery là điểm trung gian đưa tác phẩm đến với công chúng nhanh chóng, hiệu quả. Về mặt kinh tế, gallery là mối gắn kết bền chặt, chia sẻ lợi ích và bao tiêu sản phẩm sáng tạo cho họa sĩ. Điều này không chỉ giúp mỹ thuật hòa nhập nhanh chóng với kinh tế thị trường mà còn khích lệ tinh thần sáng tạo của nghệ sĩ.

Nhìn lại hơn 3 thập kỷ qua, gallery gần như giữ vị trí độc tôn trước khi chợ nghệ thuật hay nhà đấu giá xuất hiện. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, ranh giới giữa gallery và các định chế giáo dục đang bị xóa nhòa. Nhiều gallery chú trọng mục đích nghiên cứu học thuật, mang dáng dấp của những viện bảo tàng thu nhỏ. Ở đó, giám tuyển là linh hồn, đảm nhận việc lựa chọn nghệ sĩ, nghiên cứu nội dung, xây dựng chủ đề và truyền thông thông điệp. Gallery thể hiện sự chuyên nghiệp khi tham gia vào hệ thống thương mại, xác lập giá trị tác phẩm thông qua các diễn ngôn phê bình, tọa đàm...

Tìm hướng phát triển trong bối cảnh mới

Bối cảnh kinh tế khó khăn sau đại dịch Covid-19 đã giáng đòn mạnh vào hệ thống gallery. Nhiều không gian nghệ thuật mới mở nhanh chóng rơi vào im ắng, không thể cam kết mua tác phẩm của nghệ sĩ. Các trung tâm lớn tại Hà Nội phải thu hẹp quy mô, cắt giảm nhân sự. Những tên tuổi kỳ cựu như Art Vietnam Gallery hay Hanoi Studio Gallery... thậm chí phải thu về hoạt động tại tư gia để cắt giảm chi phí. Galerie Quynh cũng đối mặt với thách thức lớn khi phải duy trì một tổ chức phi lợi nhuận phục vụ nghệ thuật trong thời buổi kinh tế thắt hầu bao.

Để tháo gỡ rào cản, định chế gallery cần một bệ đỡ xã hội và những chính sách bảo trợ đúng đắn. Cần có sự vào cuộc đồng bộ từ góc độ quản trị, pháp luật đến thuế và chiến lược quốc gia. Nhà nước cần ban hành các cơ chế ưu đãi thuế để thu hút những thương hiệu đấu giá lớn đặt văn phòng đại diện, qua đó thiết lập một thị trường thứ cấp chuyên nghiệp.

Việc hỗ trợ tài chính cho các gallery đưa tác phẩm tham dự hội chợ nghệ thuật (art fair) quốc tế là giải pháp để quảng bá nghệ thuật Việt Nam trên bản đồ khu vực. Theo các chuyên gia, gallery cần được nới rộng không gian và hưởng ưu đãi về đất đai, thuế để thực sự chuyên nghiệp hóa. Đặc biệt, định hướng phát triển của gallery cần bám sát Quyết định số 2486/QĐ-TTg, ngày 14-11-2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Theo đó, mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm là một trong 10 ngành công nghiệp văn hóa mũi nhọn, hướng tới mục tiêu đóng góp 7% tổng sản phẩm trong nước (GDP) vào năm 2030 và 9% GDP vào năm 2045.

Để nâng tầm vị thế, các gallery phải định vị mình là những doanh nghiệp sáng tạo, đổi mới, không ngừng kết nối với đời sống mỹ thuật toàn cầu. Không thể phủ nhận sự nỗ lực đưa mỹ thuật đương đại đến gần với công chúng của các gallery Việt Nam. Tuy nhiên, để kiến tạo một nền mỹ thuật đương đại giàu bản sắc thẩm mỹ và văn hóa truyền thống, định chế này cần một chiến lược nâng tầm bài bản, từng bước khẳng định vị thế và quyền lực mềm của Việt Nam trên trường quốc tế.