Bài học kinh nghiệm thứ năm được Đại hội XIV của Đảng chỉ ra: “Không ngừng đổi mới tư duy, nhất là tư duy chiến lược; nhất quán, kiên định về chiến lược, linh hoạt, mềm dẻo về sách lược; tôn trọng quy luật khách quan, phòng, chống bệnh chủ quan, duy ý chí, giáo điều, cơ hội, bảo thủ...”.

Tổng kết chặng đường đổi mới cho thấy, bài học kinh nghiệm thứ năm có ý nghĩa phương pháp luận đặc biệt sâu sắc, quyết định chất lượng lãnh đạo, cầm quyền và hiệu quả phát triển trong giai đoạn mới.

Ảnh minh họa: qdnd.vn

 Đổi mới tư duy là khởi nguồn và động lực của mọi sự đổi mới. Thực tiễn lịch sử cho thấy, mọi bước ngoặt lớn của cách mạng Việt Nam đều bắt đầu từ sự đột phá trong tư duy. Trước đổi mới, những hạn chế của mô hình phát triển cũ không chỉ là vấn đề kinh tế, mà sâu xa hơn là sự lạc hậu của tư duy quản lý và tư duy phát triển so với yêu cầu thực tiễn. Đại hội VI của Đảng đã đánh dấu bước ngoặt lịch sử khi dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, từ đó khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, mà cốt lõi là đổi mới tư duy.

Đổi mới tư duy không phải là phủ định sạch trơn cái cũ, càng không phải là dao động về mục tiêu, mà là đổi mới cách nghĩ, cách tiếp cận, cách giải quyết vấn đề trên nền tảng kiên định những nguyên tắc căn bản. Trong suốt quá trình đổi mới, Đảng ta đã từng bước chuyển từ tư duy bao cấp sang tư duy kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; từ quản lý bằng mệnh lệnh hành chính sang quản trị bằng pháp luật, cơ chế, chính sách; từ tư duy đóng sang tư duy mở, chủ động hội nhập quốc tế. Thực tiễn khẳng định đổi mới tư duy đi trước một bước sẽ mở đường cho đổi mới hành động, ngược lại, sự trì trệ trong tư duy sẽ trở thành lực cản lớn nhất đối với phát triển.

Mặt khác, trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gay gắt; khoa học - công nghệ phát triển như vũ bão; các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen, thì đổi mới tư duy chiến lược trở thành yêu cầu sống còn đối với mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Tư duy chiến lược là tư duy về tầm nhìn dài hạn, về lựa chọn con đường phát triển, về xác định đúng mục tiêu, thứ tự ưu tiên và cách thức phân bổ nguồn lực. Đổi mới tư duy chiến lược không có nghĩa là thay đổi mục tiêu căn bản, mà là nhận diện đúng bối cảnh mới, xác lập những đột phá chiến lược phù hợp với điều kiện thực tiễn và quy luật phát triển. Thực tiễn đổi mới cho thấy, những quyết sách mang tính chiến lược đúng đắn - từ đổi mới mô hình tăng trưởng, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế tri thức, chuyển đổi số, đến hội nhập quốc tế sâu rộng - đều bắt nguồn từ sự đổi mới tư duy chiến lược kịp thời, phù hợp với xu thế thời đại.

Nhất quán, kiên định về chiến lược là điều kiện giữ vững định hướng phát triển. Đổi mới tư duy không đồng nghĩa với dao động, thay đổi mục tiêu chiến lược. Ngược lại, trong bối cảnh biến động phức tạp, việc giữ vững sự nhất quán, kiên định về chiến lược lại càng trở nên quan trọng.

Kiên định chiến lược thể hiện ở việc giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc là tối thượng; lấy con người làm trung tâm, mục tiêu và động lực của phát triển; phát triển nhanh gắn với bền vững; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Chính sự kiên định chiến lược đã giúp Việt Nam không rơi vào khủng hoảng định hướng trong những thời điểm khó khăn, không bị cuốn theo những trào lưu cực đoan, không đánh đổi tiến bộ, công bằng xã hội và ổn định chính trị để lấy tăng trưởng đơn thuần. Đây là yếu tố then chốt bảo đảm cho sự phát triển lâu dài, bền vững của đất nước.

Linh hoạt, mềm dẻo về sách lược là nghệ thuật xử lý tình huống trong thực tiễn.  Nếu chiến lược là cái bất biến trong định hướng lâu dài, thì sách lược là cái biến đổi linh hoạt trong phương thức và bước đi cụ thể. Bài học lớn từ thực tiễn lãnh đạo cách mạng là kiên định về chiến lược phải đi đôi với linh hoạt, mềm dẻo về sách lược. Linh hoạt, mềm dẻo không phải là thỏa hiệp nguyên tắc, mà là vận dụng sáng tạo nguyên tắc vào hoàn cảnh cụ thể, lựa chọn cách làm phù hợp nhất để đạt mục tiêu chiến lược. Thực tiễn đổi mới cho thấy, sự linh hoạt trong điều hành kinh tế, trong đối ngoại, trong xử lý các vấn đề xã hội đã giúp đất nước vượt qua nhiều thời điểm khó khăn, tận dụng được thời cơ, hạn chế tối đa rủi ro.

Tôn trọng quy luật khách quan là nguyên tắc nền tảng của tư duy khoa học. Một bài học có ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc là mọi đường lối, chủ trương, chính sách phải tôn trọng và vận dụng đúng các quy luật khách quan. Thực tiễn đổi mới cho thấy, những thành công đều gắn liền với việc nhận thức và vận dụng đúng quy luật của kinh tế thị trường, quy luật phát triển xã hội, quy luật hội nhập quốc tế; ngược lại, những hạn chế, sai lầm đều bắt nguồn từ việc vi phạm hoặc xem nhẹ các quy luật đó. Tôn trọng quy luật khách quan đòi hỏi phải xuất phát từ điều kiện cụ thể của đất nước, không nóng vội, không áp đặt ý chí chủ quan. Đây là cơ sở để xây dựng chính sách phù hợp, khả thi, có hiệu quả bền vững.

Trong bối cảnh mới, việc tôn trọng quy luật càng đòi hỏi phải nâng cao trình độ khoa học, năng lực dự báo, tư duy hệ thống, tư duy dài hạn, tránh cách làm manh mún, nhiệm kỳ, chạy theo thành tích trước mắt.

Trong đó, phải kiên quyết phòng, chống bệnh chủ quan, duy ý chí. Bởi đây là căn bệnh nguy hiểm trong lãnh đạo và quản lý, dẫn đến những quyết sách thiếu cơ sở khoa học, không phù hợp thực tiễn, gây tổn thất nguồn lực và làm suy giảm niềm tin xã hội. Thực tiễn đổi mới cho thấy, mọi biểu hiện nóng vội, áp đặt, chạy theo mong muốn chủ quan đều phải trả giá. Phòng, chống bệnh chủ quan, duy ý chí đòi hỏi phải coi trọng tổng kết thực tiễn, lắng nghe ý kiến đa chiều, đề cao phản biện khoa học, phát huy dân chủ trong hoạch định chính sách. Đồng thời, phải xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực, trách nhiệm giải trình, đánh giá hiệu quả thực chất để hạn chế tối đa những quyết định cảm tính, phi thực tiễn.

Khắc phục giáo điều, bảo thủ và cơ hội là yêu cầu của đổi mới tư duy toàn diện. Giáo điều, bảo thủ là biểu hiện của tư duy trì trệ, không chịu đổi mới, máy móc sao chép kinh nghiệm cũ hoặc mô hình bên ngoài mà không xuất phát từ điều kiện cụ thể. Cơ hội chủ nghĩa lại là biểu hiện của sự dao động, thiếu kiên định, chạy theo lợi ích trước mắt, sẵn sàng thỏa hiệp nguyên tắc. Hai khuynh hướng này đều gây hại cho sự nghiệp cách mạng. Do đó, đổi mới tư duy đòi hỏi phải kết hợp hài hòa giữa kiên định và sáng tạo, giữa giữ vững nguyên tắc và linh hoạt trong phương thức thực hiện. Đây là yêu cầu khó nhưng mang tính quyết định đối với năng lực lãnh đạo trong giai đoạn phát triển mới.

Đổi mới tư duy chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện. Tư duy chiến lược hiện đại đòi hỏi chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị phát triển; từ điều hành bằng mệnh lệnh sang điều hành bằng thể chế, cơ chế, chính sách; từ tư duy đóng sang tư duy mở, hợp tác, cùng phát triển. Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển nền quản trị quốc gia hiện đại, liêm chính, hiệu quả chính là biểu hiện sinh động của quá trình đổi mới tư duy trong thực tiễn lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta.