Bài học thứ ba được Đại hội XIV của Đảng chỉ ra là: “Quán triệt sâu sắc và thực hành triệt để quan điểm “Dân là gốc”, phát huy vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân. Tăng cường củng cố và phát huy sức mạnh của nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; thực hành "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá cán bộ”.
 |
Bài học kinh nghiệm lớn từ 40 năm đổi mới là luôn lấy “Dân là gốc”, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Trong ảnh: LLVT Quân khu 4 vượt lũ đưa bệnh nhân đi cấp cứu tại vùng lũ Con Cuông, tỉnh Nghệ An (tháng 7-2025).
|
Quán triệt sâu sắc và thực hành triệt để quan điểm ấy không chỉ là yêu cầu mang tính nguyên tắc, mà còn là điều kiện quyết định để củng cố nền tảng chính trị - xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo đảm cho mọi chủ trương, đường lối của Đảng được hiện thực hóa sinh động trong đời sống.
Tổng kết thực tiễn bốn thập kỷ đổi mới cho thấy, đây là bài học có ý nghĩa chiến lược, vừa mang tính nền tảng tư tưởng, vừa có giá trị chỉ đạo hành động sâu sắc trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Quan điểm “Dân là gốc” bắt nguồn từ truyền thống văn hóa - lịch sử của dân tộc và được Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa, phát triển lên tầm tư tưởng cách mạng. Người khẳng định: “Nước lấy dân làm gốc”, “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”. Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay từ khi ra đời, đã xác định rõ: Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam chứng minh, mọi thắng lợi đều gắn liền với việc phát huy sức mạnh của nhân dân; ngược lại, bất cứ biểu hiện xa dân, coi nhẹ vai trò của nhân dân đều dẫn đến hạn chế, sai lầm, thậm chí thất bại. Trong sự nghiệp đổi mới, khi đất nước chuyển sang phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, thì yêu cầu quán triệt quan điểm “Dân là gốc” lại càng trở nên cấp thiết và có ý nghĩa quyết định. “Dân là gốc” không chỉ là khẩu hiệu chính trị, mà phải được thể hiện bằng nhận thức đúng, hành động cụ thể, cơ chế vận hành hiệu quả, đặt nhân dân ở vị trí trung tâm của mọi chiến lược, chính sách phát triển.
Phát huy vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân là động lực quyết định của đổi mới và phát triển. Trong mô hình phát triển hiện đại, nhân dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng thành quả phát triển, mà trước hết và trên hết là chủ thể sáng tạo, là động lực trực tiếp của sự phát triển. Mọi chủ trương, đường lối đúng đắn nếu không được nhân dân đồng thuận, ủng hộ và tham gia thực hiện thì khó có thể đi vào cuộc sống.
Thực tiễn đổi mới cho thấy, những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, cải cách hành chính, chuyển đổi số, bảo đảm an sinh xã hội… đều gắn liền với việc huy động, phát huy trí tuệ, nguồn lực, tinh thần trách nhiệm và tính sáng tạo của nhân dân. Phát huy vai trò chủ thể của nhân dân đòi hỏi Đảng, Nhà nước phải tôn trọng quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn đời sống nhân dân, lắng nghe ý kiến nhân dân, dựa vào nhân dân để hoạch định và thực hiện chính sách. Mọi biểu hiện áp đặt, duy ý chí, hành chính hóa ý chí chủ quan đều làm suy giảm niềm tin và triệt tiêu động lực phát triển.
Củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc - nguồn lực vô song của cách mạng Việt Nam. Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là bài học lớn xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam. Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước đứng trước nhiều thời cơ và thách thức đan xen, thì việc củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc càng có ý nghĩa sống còn. Sức mạnh đại đoàn kết được tạo nên từ sự thống nhất về mục tiêu, lợi ích; từ niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước; từ sự hài hòa lợi ích giữa các giai tầng, cộng đồng, vùng miền. Đoàn kết không phải là sự đồng nhất máy móc, mà là tôn trọng sự khác biệt, tìm kiếm điểm chung, hướng tới mục tiêu chung vì lợi ích quốc gia - dân tộc.
Việc phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong tập hợp, vận động, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của nhân dân; tăng cường đối thoại, đồng thuận xã hội; giải quyết kịp thời, thỏa đáng các vấn đề bức xúc của nhân dân… là những giải pháp quan trọng để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình mới.
Bên cạnh đó, tin dân, dựa vào dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân là thước đo bản chất cách mạng và tính chính danh của Đảng cầm quyền. Quyền làm chủ của nhân dân không chỉ được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật, mà phải được bảo đảm bằng cơ chế, thiết chế và phương thức thực hiện cụ thể, hiệu quả.
Thực hành dân chủ phải gắn với kỷ cương, pháp luật; phát huy quyền làm chủ phải đi đôi với nâng cao trách nhiệm công dân. Trong điều kiện mới, yêu cầu đặt ra là phải mở rộng và nâng cao chất lượng dân chủ, cả dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp, bảo đảm nhân dân thực sự được tham gia vào quá trình xây dựng, thực thi và giám sát chính sách. Việc xây dựng chính quyền phục vụ, hành chính công khai, minh bạch; đẩy mạnh chuyển đổi số để người dân dễ tiếp cận, giám sát; tăng cường cơ chế phản biện xã hội… chính là những biểu hiện cụ thể của việc tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong thực tiễn.
Thực hành đầy đủ, thực chất phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” là sự phát triển toàn diện tư duy về dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đây không chỉ là yêu cầu về quy trình, mà còn là chuẩn mực đánh giá mức độ thực chất của việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Nếu nhân dân chỉ “biết” mà không được “bàn”, “làm”, “kiểm tra”, “giám sát”, thì dân chủ sẽ trở nên hình thức. Nếu nhân dân tham gia nhưng không được “thụ hưởng” công bằng, thì sự đồng thuận xã hội sẽ bị suy giảm. Do đó, mọi chính sách phát triển phải hướng tới mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lượng cuộc sống, hạnh phúc của nhân dân. Thực hành phương châm này đòi hỏi phải chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ, từ “làm cho dân” sang “làm cùng dân”, coi nhân dân là đối tác, là chủ thể đồng hành trong quá trình phát triển.
Thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân là cội nguồn sức mạnh của Đảng cầm quyền. Mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân là cội nguồn sức mạnh, là nền tảng cho vai trò lãnh đạo của Đảng. Đảng tồn tại và phát triển là vì nhân dân; Đảng mạnh hay yếu trước hết được đo bằng niềm tin của nhân dân. Thực tiễn cho thấy, ở đâu cấp ủy, chính quyền gần dân, lắng nghe dân, giải quyết kịp thời nguyện vọng chính đáng của dân, thì ở đó phong trào phát triển, niềm tin được củng cố. Ngược lại, ở đâu quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn của dân, thì ở đó nảy sinh điểm nóng, mâu thuẫn xã hội, làm suy giảm uy tín của Đảng. Dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị không chỉ là phương châm, mà phải trở thành cơ chế thường xuyên, nền nếp, thông qua giám sát, phản biện, góp ý của nhân dân đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên và hoạt động của bộ máy công quyền.
Lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá cán bộ. Một đổi mới quan trọng trong tư duy lãnh đạo hiện nay là lấy kết quả phục vụ nhân dân và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ. Đây là yêu cầu tất yếu của một nền quản trị hiện đại, liêm chính, hành động.
Đánh giá cán bộ không thể chỉ dựa vào hồ sơ, bằng cấp hay báo cáo hình thức, mà phải dựa vào sản phẩm cụ thể, hiệu quả công việc và mức độ tín nhiệm của nhân dân. Cán bộ tốt là cán bộ giải quyết được vấn đề thực tiễn, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển. Việc gắn đánh giá cán bộ với sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp cũng góp phần phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực, thúc đẩy tinh thần trách nhiệm, đổi mới, sáng tạo trong đội ngũ cán bộ, công chức.
Trong giai đoạn mới, việc hiện thực hóa bài học này bằng những cơ chế, chính sách cụ thể, hiệu quả sẽ là chìa khóa để củng cố niềm tin xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đưa đất nước vững bước tiến lên phồn vinh, hạnh phúc.