Bài học thứ tư được Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: “Bám sát thực tiễn, dự báo đúng tình hình; phản ứng chính sách chủ động, linh hoạt, kịp thời, phù hợp; lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm; phân công, phân cấp, phân quyền rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả; kiểm tra, giám sát chặt chẽ; nâng cao chất lượng thể chế; tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”.

Cảng Tân Thuận, TP Hồ Chí Minh. Ảnh minh họa: nhandan.vn

Tổng kết quá trình đổi mới cho thấy, bên cạnh việc kiên định mục tiêu, đường lối chiến lược, bài học thứ tư có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ là kinh nghiệm thực tiễn, mà còn là phương thức lãnh đạo hiện đại, là thước đo năng lực cầm quyền trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn về chất lượng, hiệu quả và tính bền vững.

Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. Mọi đường lối, chủ trương, chính sách nếu không xuất phát từ thực tiễn sinh động của đất nước, không phản ánh đúng yêu cầu phát triển và tâm tư, nguyện vọng của nhân dân thì khó có thể phát huy hiệu quả. Bốn thập kỷ đổi mới cho thấy, mỗi bước tiến của đất nước đều gắn liền với sự đổi mới tư duy trên cơ sở tổng kết thực tiễn, nhận diện đúng bối cảnh trong nước và quốc tế.

Bám sát thực tiễn không đồng nghĩa với chạy theo sự vụ, mà là nắm vững quy luật vận động của kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, từ đó đưa ra quyết sách mang tính chiến lược, dài hạn. Trong điều kiện toàn cầu hóa, cách mạng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và biến đổi địa - chính trị diễn biến nhanh chóng, năng lực dự báo càng trở thành yếu tố sống còn của công tác lãnh đạo, quản lý. Dự báo đúng tình hình giúp Đảng và Nhà nước chủ động chuẩn bị phương án ứng phó, tận dụng thời cơ, hạn chế rủi ro. Ngược lại, nếu nhận diện sai, dự báo chậm, sẽ dẫn đến bị động, lúng túng trong điều hành, bỏ lỡ cơ hội phát triển hoặc phải trả giá bằng nguồn lực và thời gian.

Phản ứng chính sách chủ động, linh hoạt, kịp thời, phù hợp là yêu cầu của quản trị quốc gia hiện đại. Trong bối cảnh môi trường phát triển biến động nhanh, chính sách không thể bất biến, mà phải có khả năng điều chỉnh linh hoạt, kịp thời theo diễn biến thực tiễn. Thực tiễn đổi mới chứng minh, những giai đoạn đất nước vượt qua khó khăn, thách thức lớn đều gắn liền với việc ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách đúng lúc, đúng trọng tâm, phù hợp với điều kiện cụ thể.

Chủ động trong phản ứng chính sách thể hiện ở việc không chờ đợi tình huống xấu xảy ra mới xử lý, mà đi trước một bước, chuẩn bị các kịch bản khác nhau, sẵn sàng điều chỉnh chính sách khi điều kiện thay đổi. Linh hoạt không có nghĩa là tùy tiện, mà là vận dụng sáng tạo chủ trương, nguyên tắc chung vào hoàn cảnh cụ thể, bảo đảm mục tiêu tổng thể nhưng không cứng nhắc về biện pháp. Kịp thời và phù hợp là hai tiêu chí then chốt của hiệu quả chính sách. Một chính sách đúng nhưng ban hành chậm hoặc không phù hợp thực tiễn cũng khó phát huy tác dụng. Vì vậy, nâng cao năng lực phân tích, phản ứng nhanh, phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành là yêu cầu tất yếu trong điều hành phát triển đất nước hiện nay.

Lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm là yếu tố quyết định hiệu quả thực thi. Thực tiễn cho thấy, không ít chủ trương, chính sách đúng đắn nhưng khi đi vào thực hiện lại chưa đạt kết quả như mong muốn, nguyên nhân chủ yếu nằm ở khâu tổ chức thực hiện. Do đó, bài học rút ra là lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành phải quyết liệt, nhất quán, có trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải, hình thức.

Quyết liệt không chỉ là khẩu hiệu, mà phải được thể hiện bằng hành động cụ thể, bằng sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, với tinh thần trách nhiệm cao của người đứng đầu. Có trọng tâm, trọng điểm là tập trung nguồn lực, thời gian, nhân lực vào những lĩnh vực then chốt, những vấn đề cấp bách, có tác động lan tỏa lớn đối với phát triển kinh tế - xã hội. Lãnh đạo hiệu quả đòi hỏi phải biết lựa chọn đúng việc, làm đến nơi đến chốn, tạo ra sản phẩm cụ thể, tránh tình trạng “đầu voi, đuôi chuột” hoặc chỉ dừng ở nghị quyết, kế hoạch mà thiếu kết quả thực tế.

Phân công, phân cấp, phân quyền rõ ràng là điều kiện để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý. Một vấn đề quan trọng từ thực tiễn điều hành là phải phân công, phân cấp, phân quyền rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả. Đây là yêu cầu cốt lõi của quản trị hiện đại, nhằm khắc phục tình trạng chồng chéo, né tránh trách nhiệm hoặc đùn đẩy công việc.

Phân cấp, phân quyền hợp lý giúp phát huy tính chủ động, sáng tạo của địa phương, cơ sở; rút ngắn quy trình xử lý công việc; nâng cao hiệu quả phục vụ nhân dân và doanh nghiệp. Tuy nhiên, phân quyền phải đi đôi với kiểm soát quyền lực, bảo đảm thống nhất quản lý, giữ vững kỷ cương, kỷ luật hành chính. Việc xác định rõ trách nhiệm cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu, là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng điều hành. Khi “rõ người, rõ việc”, thì hiệu quả công việc được nâng cao, đồng thời hạn chế được tiêu cực, nhũng nhiễu và lãng phí nguồn lực.

Tăng cường kiểm tra, giám sát nhằm bảo đảm kỷ cương, kỷ luật và hiệu quả thực hiện. Kiểm tra, giám sát là chức năng lãnh đạo quan trọng của Đảng và Nhà nước, là công cụ hữu hiệu để bảo đảm các chủ trương, chính sách được thực hiện nghiêm túc, đúng định hướng. Thực tiễn cho thấy, ở đâu công tác kiểm tra, giám sát được thực hiện chặt chẽ, thường xuyên, thì ở đó kỷ luật, kỷ cương được giữ vững, hiệu quả công việc được nâng cao.

Kiểm tra, giám sát không chỉ nhằm phát hiện và xử lý sai phạm, mà quan trọng hơn là phòng ngừa, uốn nắn kịp thời, giúp các cấp, các ngành thực hiện đúng mục tiêu, yêu cầu đề ra. Việc kết hợp giữa kiểm tra của tổ chức đảng, giám sát của cơ quan dân cử, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và sự giám sát của nhân dân tạo nên cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả. Trong bối cảnh phân cấp, phân quyền ngày càng mạnh, vai trò của kiểm tra, giám sát càng trở nên quan trọng, nhằm bảo đảm sự thống nhất, thông suốt trong lãnh đạo, điều hành và tổ chức thực hiện.

Nâng cao chất lượng thể chế là đột phá then chốt để khơi thông nguồn lực. Thể chế là “điểm nghẽn của điểm nghẽn” nhưng đồng thời cũng là động lực của động lực. Bốn thập kỷ đổi mới cho thấy, mỗi bước cải cách thể chế đều tạo ra không gian phát triển mới, giải phóng sức sản xuất, khơi thông nguồn lực xã hội.

Nâng cao chất lượng thể chế không chỉ là hoàn thiện hệ thống pháp luật, mà còn là xây dựng môi trường minh bạch, ổn định, dễ dự đoán, tạo niềm tin cho người dân và doanh nghiệp. Thể chế tốt sẽ thúc đẩy đổi mới sáng tạo, thu hút đầu tư, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và năng lực cạnh tranh quốc gia. Việc rà soát, sửa đổi, bãi bỏ những quy định chồng chéo, mâu thuẫn, không còn phù hợp; đơn giản hóa thủ tục hành chính; đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý nhà nước là những giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng thể chế trong giai đoạn hiện nay.

Tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển và bảo vệ Tổ quốc: Nguồn lực phát triển của đất nước là tổng hòa của nhiều yếu tố: Con người, tài nguyên, vốn, khoa học - công nghệ, văn hóa, vị thế quốc tế. Tuy nhiên, nguồn lực chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được khơi thông và sử dụng đúng cách, thông qua cơ chế, chính sách phù hợp và bộ máy tổ chức thực hiện hiệu quả. Tháo gỡ điểm nghẽn không chỉ là giải quyết những vướng mắc cụ thể, mà còn là cải cách tư duy, đổi mới phương thức lãnh đạo và quản trị, xóa bỏ những rào cản cản trở sự phát triển. Việc huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phải gắn với mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, đồng thời bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia.