Cơ sở lý luận của đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng
Trong lịch sử lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn đặc biệt coi trọng việc đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn phát triển. Thực tiễn gần 40 năm đổi mới cho thấy, cùng với việc hoạch định đúng đắn đường lối, chủ trương, yếu tố quyết định thành công ngày càng nằm ở khâu tổ chức thực thi. Nhiều chủ trương đúng, quyết sách đúng chỉ phát huy hiệu quả khi được triển khai nghiêm túc, đồng bộ, có kiểm tra, giám sát và đánh giá thực chất.
Đại hội XIV của Đảng diễn ra trong bối cảnh đất nước đứng trước yêu cầu phát triển nhanh, bền vững hơn, với khát vọng bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Văn kiện Đại hội XIV đã thể hiện rõ tư duy đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nhấn mạnh yêu cầu nâng cao năng lực tổ chức thực hiện, khắc phục tình trạng “nói nhiều, làm ít”, “chủ trương đúng nhưng thực hiện chưa tốt”. Điều đó đặt ra yêu cầu cần được luận giải một cách khoa học: Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng chuyển mạnh từ hoạch định sang tổ chức thực thi.
 |
Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì họp báo quốc tế thông báo kết quả Đại hội XIV của Đảng. Ảnh: qdnd.vn
|
Trong lý luận chính trị, phương thức lãnh đạo được hiểu là tổng thể các cách thức, biện pháp, quy trình mà Đảng sử dụng để tác động, định hướng và tổ chức hệ thống chính trị và toàn xã hội thực hiện đường lối, mục tiêu đã đề ra. Đối với một Đảng cầm quyền, phương thức lãnh đạo không chỉ phản ánh trình độ lý luận, mà còn thể hiện năng lực tổ chức, khả năng biến chủ trương thành hiện thực.
Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đều nhấn mạnh vai trò của thực tiễn và tổ chức thực hiện. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định: “Nghị quyết thì tốt, nhưng tổ chức thực hiện không tốt thì nghị quyết cũng vô ích”. Đây là luận điểm có giá trị phương pháp luận sâu sắc đối với việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn hiện nay.
Trong điều kiện Đảng lãnh đạo toàn diện công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, phạm vi, đối tượng và phương thức lãnh đạo của Đảng ngày càng đa dạng, phức tạp. Sự phát triển nhanh của kinh tế thị trường, khoa học – công nghệ, chuyển đổi số, cùng với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi Đảng phải chuyển mạnh từ lãnh đạo chủ yếu bằng mệnh lệnh, chỉ đạo sang lãnh đạo bằng tầm nhìn chiến lược, thể chế, cơ chế và năng lực tổ chức thực thi.
Đại hội XIV tiếp tục phát triển nhận thức này, coi đổi mới phương thức lãnh đạo là một trong những khâu then chốt nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong thời kỳ mới.
Thực tiễn đổi mới cho thấy, Đảng đã từng bước đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng khoa học, dân chủ, sát thực tiễn hơn. Việc ban hành nghị quyết ngày càng ngắn gọn, rõ mục tiêu, rõ nhiệm vụ; tăng cường phân cấp, phân quyền; chú trọng công tác kiểm tra, giám sát; đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, đã tạo ra những chuyển biến tích cực.
Đại hội XIV tiếp tục kế thừa và phát triển những thành tựu đó, nhấn mạnh yêu cầu nâng cao chất lượng tổ chức thực hiện nghị quyết, coi đây là thước đo năng lực lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng.
Bên cạnh kết quả đạt được, thực tiễn cũng cho thấy không ít chủ trương, nghị quyết chậm đi vào cuộc sống; khâu tổ chức thực thi còn là “điểm nghẽn”. Một số nơi còn tình trạng ban hành nhiều nghị quyết nhưng thiếu nguồn lực thực hiện; phân công trách nhiệm chưa rõ; kiểm tra, giám sát chưa thường xuyên; đánh giá kết quả còn hình thức.
Những hạn chế này đặt ra yêu cầu bức thiết phải chuyển mạnh tư duy lãnh đạo từ “hoạch định là chủ yếu” sang “tổ chức thực thi là quyết định”.
Nội dung cốt lõi của chuyển mạnh từ hoạch định sang tổ chức thực thi
Từ tư duy ban hành nghị quyết sang tư duy quản trị thực thi. Đổi mới phương thức lãnh đạo không có nghĩa là xem nhẹ công tác hoạch định đường lối, mà là nâng tầm hoạch định gắn liền với quản trị thực thi. Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu mỗi nghị quyết phải đi kèm với lộ trình, nguồn lực, cơ chế kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả cụ thể. Điều này đòi hỏi các cấp ủy phải đổi mới tư duy, coi tổ chức thực hiện là một quá trình quản lý khoa học, liên tục, có điều chỉnh linh hoạt theo thực tiễn.
Một điểm mới quan trọng trong đổi mới phương thức lãnh đạo được Đại hội XIV khẳng định là yêu cầu “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ kết quả”. Đây là cơ sở để nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng, khắc phục tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm.
Gắn đổi mới phương thức lãnh đạo với xây dựng đội ngũ cán bộ. Tổ chức thực thi hiệu quả phụ thuộc quyết định vào chất lượng đội ngũ cán bộ. Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ có tư duy đổi mới, năng lực tổ chức thực tiễn, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Thành công của Đại hội XIV góp phần làm rõ một bước phát triển quan trọng trong lý luận về Đảng cầm quyền ở Việt Nam: Từ nhấn mạnh vai trò hoạch định đường lối sang đề cao năng lực tổ chức thực thi. Đây là sự bổ sung có giá trị vào lý luận xây dựng Đảng và phương thức lãnh đạo trong điều kiện mới. Đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng này tạo động lực nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành của hệ thống chính trị; củng cố niềm tin của nhân dân; góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo định hướng Đại hội XIV đề ra, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế hóa các nghị quyết của Đảng thành pháp luật, cơ chế, chính sách khả thi, dễ thực hiện. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết trên cơ sở sản phẩm, hiệu quả cụ thể. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, nâng cao tính minh bạch và hiệu quả tổ chức thực thi. Gắn đổi mới phương thức lãnh đạo với xây dựng văn hóa trách nhiệm và nêu gương của cán bộ, đảng viên.
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng chuyển mạnh từ hoạch định sang tổ chức thực thi là yêu cầu khách quan, cấp thiết trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Thành công của Đại hội XIV đã tạo ra cơ sở chính trị, lý luận và thực tiễn vững chắc để thúc đẩy quá trình đổi mới này. Thực hiện tốt yêu cầu đó sẽ góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, tạo động lực mạnh mẽ đưa Việt Nam vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới.