Từ Chiến dịch Ajax đến “Viên cảnh sát vùng Vịnh”
Sự hình thành của liên minh này không bắt đầu từ sự tương đồng về văn hóa hay ý thức hệ, mà từ một sự can thiệp trực tiếp mang tính bước ngoặt nhằm bảo đảm dòng chảy dầu mỏ và vị thế của Mỹ tại khu vực. Đây là giai đoạn chính quyền Washington xác lập vai trò “ủy nhiệm” cho Tehran, biến Iran thành một cường quốc quân sự thay mặt Mỹ kiểm soát các điểm nút giao thông chiến lược tại vùng Vịnh.
Mối quan hệ đồng minh gắn bó giữa Mỹ và Iran bắt đầu từ một bước ngoặt lịch sử vào năm 1953 mang tên Chiến dịch Ajax. Nguyên nhân sâu xa xuất phát từ việc Thủ tướng Iran Mohammad Mossadegh quyết định quốc hữu hóa ngành dầu mỏ để giành lại quyền kiểm soát tài nguyên quốc gia từ tay các công ty phương Tây. Để bảo vệ lợi ích kinh tế quốc gia, Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) đã đạo diễn một cuộc đảo chính lật đổ chính phủ của ông Mossadegh, đồng thời dọn đường cho Vua Mohammad Reza Pahlavi quay trở lại nắm quyền lực tối cao.
 |
Người dân Iran xuống đường biểu tình trong cuộc đảo chính năm 1953. Ảnh: ThePrint
|
Nhờ sự hậu thuẫn mang tính quyết định này, Vua Pahlavi thiết lập một chính quyền hoàn toàn thân phương Tây. Điều này đồng nghĩa với việc sự tồn vong của chế độ quân chủ Iran kể từ sau năm 1953 bị trói chặt vào các khoản viện trợ tài chính, sự ủng hộ chính trị và kho vũ khí khổng lồ từ Lầu Năm Góc. Ông chấp nhận từ bỏ con đường phát triển tự chủ để biến Iran thành một mảnh ghép then chốt trong hệ thống phòng ngự toàn cầu của Mỹ. Để đổi lấy sự hậu thuẫn tuyệt đối từ Washington, Tehran sẵn sàng mở cửa trở lại các giếng dầu cho phương Tây khai thác, đồng thời chi những khoản tiền khổng lồ mua sắm vũ khí phương Tây.
Sự kiện này đã đặt viên gạch đầu tiên cho một cấu trúc an ninh mà trong đó, Iran được giao trọng trách trở thành tiền đồn quan trọng nhất của phương Tây tại sườn phía Nam của Liên Xô. Washington nhìn nhận Iran dưới thời Vua Pahlavi không chỉ là một đồng minh, mà còn gánh trách nhiệm bảo vệ dòng chảy “vàng đen” và kiềm chế mọi nỗ lực mở rộng của khối xã hội chủ nghĩa.
Bước sang thập niên 1970, Mỹ bắt đầu sa lầy trong cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam và buộc phải tìm kiếm những cường quốc khu vực Trung Đông để thực thi quyền lực thay mình. Học thuyết Nixon ra đời đã xác lập Iran là “Viên cảnh sát vùng Vịnh”, lực lượng quân sự mạnh nhất khu vực được giao nhiệm vụ canh giữ eo biển Hormuz - “yết hầu” năng lượng của toàn thế giới.
 |
| Chiến dịch Ajax do CIA đạo diễn đã đưa Vua Mohammad Reza Pahlavi quay trở lại chính trường Iran. Ảnh: Getty Images |
Thay vì trực tiếp đưa quân đội vào vùng Vịnh, Washington thực hiện một bước đi táo bạo là dỡ bỏ gần như toàn bộ các hạn chế về xuất khẩu vũ khí, biến Iran thành một “kho vũ khí” hiện đại bậc nhất. Việc Mỹ sẵn sàng cung cấp cho Tehran tiêm kích F-14 Tomcat, loại vũ khí không chiến mạnh mẽ lúc bấy giờ mà ngay cả các đồng minh NATO cũng chưa được sở hữu, là minh chứng rõ nét nhất cho vị thế ưu tiên tuyệt đối của Iran trong bàn cờ của Mỹ. Washington coi Tehran là “trụ cột” ổn định để bảo vệ lợi ích phương Tây mà không phải trực tiếp can thiệp quân sự, đồng thời sử dụng Iran cùng với Saudi Arabia tạo thành chiến lược “hai trụ cột” để độc chiếm ảnh hưởng tại vùng Vịnh và đẩy lùi ảnh hưởng của Liên Xô.
Sự gắn kết này chặt chẽ đến mức mọi toan tính chiến lược của Iran và Mỹ đã hòa làm một trong một thời gian dài. Đối với Tehran, đây là cơ hội vàng để tận dụng vũ khí và công nghệ quân sự tối tân từ Mỹ nhằm hiện thực hóa tham vọng xây dựng quyền lực bá chủ, đưa Iran trở lại thời kỳ hoàng kim của đế chế Ba Tư cũ thông qua chương trình “Đại văn minh”. Iran không chỉ mua vũ khí, mà còn tiếp nhận hàng nghìn cố vấn quân sự Mỹ, biến quân đội nước này thành một bản sao của quân đội phương Tây về cả trang bị lẫn tư duy tác chiến. Sự thực dụng này cho phép Mỹ duy trì sự kiểm soát tại “huyết mạch năng lượng” Trung Đông thông qua một quốc gia ủy nhiệm đầy năng lực, trong khi Vua Pahlavi có được sự bảo trợ tuyệt đối để củng cố ngai vàng và vị thế cường quốc khu vực.
 |
| Nhờ có mối quan hệ tốt với Mỹ, Iran có thể mua được tiêm kích F-14 Tomcat. Ảnh: AirTeamImages |
Tuy nhiên, việc biến quốc gia thành một “viên cảnh sát” phục vụ cho lợi ích ngoại bang, cùng sự phụ thuộc quá lớn vào sức mạnh vũ lực, đã vô hình trung gieo mầm cho những mâu thuẫn xã hội sâu sắc, dẫn đến một cú đảo chiều lịch sử vào năm 1979.
Học thuyết Ngoại vi và liên minh ngầm Iran-Israel
Trong khi mối quan hệ giữa Mỹ và Iran được phô diễn công khai, thì sự liên kết giữa Iran và Israel lại tồn tại như một “cuộc hôn nhân giấu kín” nhưng đầy tính thực dụng thông qua chiến lược đối ngoại của Israel với tên gọi Học thuyết Ngoại vi (Periphery Doctrine). Đây không đơn thuần là một sự hợp tác mang tính thời điểm, mà là một ví dụ điển hình cho việc lợi ích quốc gia cốt lõi có khả năng xóa nhòa mọi rào cản về tôn giáo và chính trị để tạo nên một liên minh ngầm vững chắc nhất tại Trung Đông khi đó.
Theo tính toán của Tel Aviv, việc thiết lập mối quan hệ với các quốc gia ở rìa khu vực là chìa khóa duy nhất để phá thế bao vây cô lập mà khối Arab đang siết chặt quanh Nhà nước Do Thái. Sự cộng hưởng lợi ích giữa hai bên được vận hành dựa trên công thức “Công nghệ quân sự đổi lấy dầu mỏ”, tạo thành một sợi dây liên kết kinh tế - quân sự không thể tách rời.
 |
| Thủ tướng Israel David Ben-Gurion (trái) gặp gỡ đại diện đặc biệt chính phủ Iran Reza Saffinia năm 1950 tại Jerusalem. Ảnh: The National News |
Dưới triều đại của Vua Pahlavi, Israel đã tìm thấy ở Iran một đối tác chiến lược hoàn hảo và là nguồn cung cấp dầu mỏ ổn định, dồi dào, yếu tố mang tính sinh tử đối với sự vận hành của nền kinh tế và bộ máy chiến tranh Israel trong bối cảnh bị các quốc gia Arab láng giềng cấm vận năng lượng. Để đổi lấy nguồn “vàng đen” quý giá này, Israel cung cấp cho Iran những công nghệ quân sự tiên tiến, các kiến thức chuyên sâu về nông nghiệp và đặc biệt là hỗ trợ huấn luyện, tổ chức các lực lượng an ninh, tình báo. Sự trao đổi này thực chất là một cam kết an ninh chung, nơi Israel đóng vai trò là “phòng thí nghiệm công nghệ” giúp Iran hiện đại hóa hạ tầng quân sự để xây dựng quyền lực bá chủ, còn Iran đóng vai trò là “mỏ neo” năng lượng giúp Israel duy trì sự tồn tại giữa một khu vực đầy rẫy thù địch.
Song song với sự hợp tác về nguồn lực vật chất, chất xúc tác mạnh mẽ nhất giữ cho liên minh ngầm Iran-Israel này bền chặt chính là mục tiêu ngăn chặn sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc Arab (Pan-Arab) do Ai Cập dẫn dắt. Cả Tehran và Tel Aviv đều chia sẻ một nỗi lo ngại sâu sắc về làn sóng dân tộc chủ nghĩa đang lan rộng, vốn được coi là mối đe dọa trực tiếp đến vị thế địa chính trị và sự ổn định của cả hai quốc gia. Đối với Israel, một khối Arab thống nhất và mạnh mẽ dưới sự lãnh đạo của các cường quốc như Ai Cập hay Iraq là mối đe dọa tồn vong đối với họ. Trong khi đó, đối với Vua Pahlavi, sự trỗi dậy của các phong trào cộng hòa và dân tộc chủ nghĩa tại các nước láng giềng là mầm mống đe dọa trực tiếp đến tính chính danh và quyền lực tuyệt đối của vương triều.
Chính từ những toan tính thực dụng này, Học thuyết Ngoại vi đã gắn kết Iran và Israel thành một vành đai quanh các nước Arab, tạo ra một thế gọng kìm địa chính trị độc đáo giúp cả hai duy trì ảnh hưởng và bảo vệ lợi ích riêng biệt. Thế trận này không chỉ giúp Israel phá thế bao vây mà còn hỗ trợ đắc lực cho Iran trong việc gia tăng tầm ảnh hưởng, biến cả hai thành những “trục ổn định” ngầm định có tính tương hỗ cao.
 |
| Mỹ - Iran - Israel từng có thời kỳ “trăng mật”. Ảnh: Global Panorama |
Nhìn lại toàn bộ giai đoạn lịch sử trước năm 1979, liên minh tam giác Mỹ - Iran - Israel là một minh chứng kinh điển cho chủ nghĩa thực dụng trong quan hệ quốc tế. Ở ván cờ địa chính trị Trung Đông đầy khắc nghiệt, không có kẻ thù vĩnh viễn hay đồng minh vĩnh cửu, mà chỉ có lợi ích an ninh và sinh tồn của quốc gia là bất biến. Có thể nói, sự tồn tại của “tam giác Mỹ - Iran - Israel” trong giai đoạn này là một phép tính cộng hưởng lợi ích địa chính trị ở mức độ cao nhất giữa 3 nước có tầm ảnh hưởng lớn trong khu vực. Đây là một cấu trúc chiến lược tinh vi, nơi mỗi “người chơi” đều tìm thấy những mảnh ghép còn thiếu để hoàn thiện tham vọng cá nhân và bảo đảm sự sinh tồn của chính mình trên bàn cờ địa chính trị Trung Đông những cạm bẫy thời kỳ Chiến tranh Lạnh.
Mặc dù “trục ổn định” này đã sụp đổ hoàn toàn sau cơn địa chấn của cuộc Cách mạng Hồi giáo năm 1979, đẩy cục diện Trung Đông rẽ sang một kỷ nguyên mới với những xung đột và những hận thù sâu sắc, nhưng những bài học lịch sử của nó vẫn còn vẹn nguyên.