Vũ khí qua bến Lộc An
Nhận mệnh lệnh mở đường đưa vũ khí vào chiến trường Nam Trung Bộ, đêm 26-9-1963, Tàu 41 do Chính trị viên Đặng Văn Thanh và Thuyền trưởng Lê Văn Một chỉ huy lên đường vào bến Lộc An (Bà Rịa).
Trong chuyến đi này, Chính trị viên Đặng Văn Thanh và Máy trưởng Huỳnh Văn Sao cùng đồng đội đã lập nên một kỳ tích. Tàu 41 ra khỏi Bến K15, chạy ngược lên phía Bắc như thể đi Trung Quốc rồi từ đó mới xuôi xuống phía Nam. Trên đường vào bến, tàu bị mắc cạn ngay phía dưới chân đồn địch ở Phước Hải (nay thuộc xã Phước Hải, TP Hồ Chí Minh), trời lại sắp sáng, để giữ bí mật con đường, chỉ huy bến đề nghị hủy tàu. Chính trị viên Đặng Văn Thanh và Máy trưởng Huỳnh Văn Sao tình nguyện ở lại, hai người kéo lá cờ ba sọc của ngụy lên cột buồm để che mắt địch rồi nhanh chóng cài kíp nổ vào khối bộc phá đã để sẵn dưới đáy tàu. Ngồi trên đống thuốc nổ, suốt một ngày thi gan với địch, bằng tài trí và sự mưu lược, hai ông đã không phải hủy tàu. Đợi đến đêm, khi nước lên, tàu thoát cạn, hai ông đưa tàu vào sông Ray cập bến an toàn. Chiến công này cùng với nhiều chiến công khác nối tiếp, Chính trị viên Đặng Văn Thanh đã được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.
 |
|
 |
| Cựu chiến binh Đoàn tàu không số viếng Anh hùng LLVT nhân dân, bác sĩ Đặng Thùy Trâm tại Đức Phổ, Quảng Ngãi (tháng 3-2008). |
Sông Ray ngày nay đã khác xưa, ông Nguyễn Sơn là người đi cùng Chính trị viên Đặng Văn Thanh đưa vũ khí về quê hương ông (bến Lộc An năm đó), nay đã ngoài 80 tuổi. Cùng đồng đội trở lại thăm nơi Tàu 41 mắc cạn và thoát hiểm, ông Sơn nhớ tới Chính trị viên Đặng Văn Thanh anh hùng, người đã truyền sức mạnh giúp ông những năm sau đó tiếp tục vượt biển, chở vũ khí về cho quê hương đánh giặc. Chiến công của ông Nguyễn Sơn từ chuyến vượt biển ra Bắc trên con tàu của tỉnh Bà Rịa đến những chuyến sau này cứ dày thêm. Tháng 12-2015, ông Sơn được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.
Để mở rộng vùng giải phóng, Quân ủy Miền chủ trương mở liên tiếp các đợt tấn công tiêu diệt sinh lực địch. Chiến trường chính trong dịp này là Đông Nam Bộ, Trung Trung Bộ và Tây Nguyên. Tại miền Đông Nam Bộ, Bộ chỉ huy Quân sự Miền quyết định mở chiến dịch thuộc 4 tỉnh là Bà Rịa, Long Khánh, Biên Hòa, Bình Thuận, nối liền từ vùng giải phóng qua Chiến khu Đ đến sát vùng biển Bà Rịa. Điểm khơi ngòi chiến dịch được chọn là ấp chiến lược Bình Giã. Để chuẩn bị chiến dịch, Bộ tư lệnh Miền điện xin Trung ương cho tàu tiếp tục chở vũ khí vào Bà Rịa. Nhận nhiệm vụ, Tàu 56 do ông Lê Quốc Thân làm Thuyền trưởng, ông Trần Quốc Tuấn làm Chính trị viên thực hiện chuyến đi này. Ngày 29-11-1964, Tàu 56 chở 44 tấn vũ khí nhổ neo; đến 22 giờ ngày 22-12-1964, tàu vào đến bến Lộc An qua cửa sông Ray. Tiếp sau đó là nhiều chuyến tàu khác với hàng nghìn tấn vũ khí được chi viện đến bến Lộc An.
Trong thời gian làm phóng viên thường trú tại Cơ quan đại diện Báo Quân đội nhân dân ở TP Cần Thơ, tôi đã nhiều lần tới thăm gia đình Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Đắc Thắng-thuyền trưởng tàu không số năm xưa. Sau ngày đất nước thống nhất, ông chuyển công tác từ Lữ đoàn 125 (Đoàn tàu không số) về Bộ tư lệnh Quân khu 9, giữ chức Trưởng phòng Hải quân (Bộ Tham mưu) đến khi nghỉ hưu. Khi tôi đến thăm, hỏi chuyện, dù tuổi ông đã cao nhưng ký ức về những năm tháng công tác, chiến đấu dường như vẫn vẹn nguyên. Nói về ý nghĩa của vũ khí qua bến Lộc An cho Chiến dịch Bình Giã, ông kể: "Từ các bến bãi nơi tàu đưa hàng vào, đặc biệt là vũ khí từ bến Lộc An, nhân dân địa phương và lực lượng ở bến đã nhanh chóng chuyển vũ khí tới các mặt trận. Được trang bị đầy đủ vũ khí, các đơn vị liên tiếp mở những chiến dịch tấn công, siết chặt vòng vây, tiêu diệt nhiều cánh quân của địch. Sau hai đợt chiến đấu, ta đánh 5 trận cấp trung đoàn, diệt gọn 2 tiểu đoàn địch, 1 chi đoàn xe bọc thép và đánh thiệt hại 3 tiểu đoàn khác. Các ấp chiến lược thuộc Đất Đỏ, Long Thành, Nhơn Trạch bị phá tan, vùng căn cứ được mở rộng tới sát biển. Chiến thắng Bình Giã đã góp phần làm phá sản chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ-ngụy. Bộ chỉ huy chiến dịch đã gửi điện biểu dương cán bộ, chiến sĩ Đoàn tàu không số góp phần làm nên chiến thắng lịch sử này".
Từ bến Lộc An, cửa sông Ray (nơi có má Mười Vinh đã góp vàng mua tàu ủng hộ cách mạng và trực tiếp tiễn con trai mình là Lê Hà lên đường vượt biển ra Bắc xin vũ khí), Tàu 56, Tàu 41 và nhiều con tàu không số khác đã vào-ra an toàn trong vòng tay che chở, đùm bọc của bà con ở bến. Bến Lộc An nay đã trở thành một di tích quan trọng cấp quốc gia, được Quân chủng Hải quân cùng địa phương xây dựng quần thể bia kỷ niệm để các thế hệ hôm nay và mai sau ghi nhớ, trân trọng.
Tàu không số vào Khu 5
Thực hiện chủ trương của Trung ương Cục, quân và dân Khu 5 mở đợt hoạt động vũ trang trong 6 tháng cuối năm 1964 nhằm tiêu diệt sinh lực địch, nhưng khó khăn lớn nhất của Khu 5 là thiếu vũ khí. Vận chuyển vũ khí vào Khu 5 bằng đường biển là công việc mạo hiểm, phức tạp, việc đặt bến không hề thuận lợi do đây là địa bàn sát Quốc lộ 1, có hệ thống ra-đa, tàu chiến, máy bay của địch kiểm soát rất cẩn mật. Sau khi cân nhắc, Bộ tư lệnh Hải quân chọn vị trí mở đường đổ hàng ở Khu 5 là bến Lộ Giao, thuộc xã Hoài Mỹ, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định (nay là phường Hoài Nhơn Đông, tỉnh Gia Lai). Bến Lộ Giao chỉ có một con suối cạn nên khi tàu vào chỉ có thể xuống hàng ở bãi ngang ngay sát bờ biển.
 |
| Các cựu chiến binh Đoàn tàu không số bên Đài tưởng niệm các liệt sĩ Tàu không số ở bến Lộc An. |
Tham gia chuyến tàu đầu tiên mở bến vào Khu 5 từ khi còn là chiến sĩ, Đại tá Trần Phấn, nguyên Phó tham mưu trưởng Lữ đoàn Đặc công 126 Hải quân đánh giá: "Địa hình ven biển của Khu 5 là bãi ngang, bằng phẳng nên việc đưa tàu vào rất khó khăn. Vì thế, Bộ Quốc phòng và Quân chủng Hải quân đặt kỳ vọng rất cao ở chuyến đi mở đường vào Khu 5 của chúng tôi. Khi được trên giao nhiệm vụ, mặc dù biết gặp nhiều khó khăn nhưng anh em đều quyết tâm cao. Ngày 15-9-1964, Tàu 401 nhổ neo lên đường với 12 thủy thủ. Tàu 401 là tàu gỗ, chở được 30 tấn vũ khí. Khi tàu vào đến bến Lộ Giao, chúng tôi phi thẳng tàu vào bãi ngang, phối hợp cùng lực lượng ở bến bốc hết vũ khí, sau đó hủy tàu rồi anh em đi bộ vượt Trường Sơn về Bắc. Tiếp theo chuyến đi của Tàu 401, những con tàu khác kế tiếp nhau lên đường".
Nhắc đến những người đã từng chở vũ khí vào chiến trường Khu 5 bằng đường biển, không thể không nhắc đến một người là linh hồn của mỗi chuyến tàu, người chỉ huy dẫn dắt đồng đội vượt qua những thời khắc mà sự sống, cái chết chỉ trong gang tấc. Đó là Chính trị viên Đỗ Như Sạn của Tàu 56. Quá trình đi tìm các nhân chứng để nghiên cứu về Đường Hồ Chí Minh trên biển, tôi đã hai lần về thăm ông Đỗ Như Sạn ở phường Sầm Sơn (Thanh Hóa), trực tiếp nghe ông kể chuyện chiến đấu của Tàu 56 trên vùng biển Lộ Giao năm xưa: “Thời điểm đó, chúng tôi gặp tình huống rất nguy kịch bởi tàu địch mỗi lúc một siết chặt vòng vây. Khi còn cách tàu địch chỉ hơn 100m, tôi trao đổi nhanh với thuyền trưởng và đề nghị anh cứ giữ thẳng lái, đâm thẳng vào tàu địch; còn tôi cầm sẵn nút bấm điện hủy tàu trên tay, khi tàu ta vừa chạm tàu địch thì tôi sẽ bấm nút cho tàu nổ. Như thế chúng ta sẽ tiêu diệt được tàu khu trục của địch với hàng trăm tên sĩ quan và thủy thủ trên tàu; nếu chúng sợ mà tránh thì chúng ta có thể hy sinh hoặc bị thương một số người nhưng vẫn giữ được con tàu. Quả thật, khi thấy tàu ta dũng mãnh lao thẳng vào, tàu khu trục hiện đại của địch đã phải giãn ra và tàu chúng tôi đã phá được vòng vây của địch. Sau hai ngày đấu trí, thi gan với địch, nhờ giữ thế hợp pháp trên vùng biển quốc tế nên Tàu 56 đã trở về bến an toàn. Đồng đội đi trên con tàu ấy sau này đều gọi tôi là ân nhân cứu mạng, cứu tàu...”.
|
"Khi Tàu 43 vào gần đến bến Đức Phổ thì bị địch phát hiện, vây đánh. Chúng tôi vừa chiến đấu, vừa cho tàu cơ động vào gần bờ nhưng do lực lượng không tương quan, địch quá đông nên tập thể tàu thống nhất hủy tàu, rồi cán bộ, chiến sĩ bơi vào bờ. Địch dùng xe tăng, bộ binh truy lùng và vây đánh. Thoát được vòng vây của địch, tàu có 17 anh em thì 3 người hy sinh, 11 người bị thương. Thật may, chúng tôi gặp nhân dân, bà con sơ cứu rồi giúp đưa thương binh, dẫn đường vượt núi từ Đức Phổ lên bệnh xá ở vùng núi Ba Tơ. Được bác sĩ Đặng Thùy Trâm cùng các y tá ở đây cứu chữa suốt hơn một tháng, anh em tôi đã hồi phục, đủ sức khỏe vượt Trường Sơn về Bắc".
(Ông LƯU CÔNG HÀO, hiện đang sống ở TP Hải Phòng, là thủy thủ Tàu 43 trong chuyến đưa vũ khí vào bến Đức Phổ (Quảng Ngãi).
|
Trên đường vận chuyển vũ khí vào Khu 5, nhiều con tàu đã phải hủy. Tàu 401 bốc cháy ở Lộ Giao; Tàu 143 hủy ở Phú Yên; Tàu 41 và 43 nổ tung ở bãi ngang (nay thuộc xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi). Đồng đội trên những con tàu ấy, người sống sót thì được nhân dân ở bến cưu mang, che chở; nhiều người được đưa về cứu chữa tại bệnh xá có nữ bác sĩ anh hùng Đặng Thùy Trâm. Khi sức khỏe bình phục, họ đi bộ vượt Trường Sơn về miền Bắc tiếp tục nhận một con tàu khác và rồi lại lên đường. Nhưng không phải ai cũng được trở về Bắc. Thuyền trưởng Phạm Vạn, Thuyền phó Dương Văn Lộc, các thủy thủ: Trần Nhợ, Vũ Văn Ruệ, Võ Tòng Nho, Phạm Văn Rai và nhiều đồng chí khác đã mãi mãi hóa thân vào biển. Đứng trước đài tưởng niệm uy nghi tại các điểm bến: Đức Phổ, Lộ Giao, Vũng Rô, Hòn Hèo... chúng tôi đều bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với những cán bộ, chiến sĩ của Đoàn tàu không số cùng quân và dân ở các điểm bến đã anh dũng hy sinh.
(còn nữa)