Nhiều thách thức trên hành trình làm chủ công nghệ
Đại tá Nguyễn Đức Thi, Giám đốc Nhà máy Z131 (Tổng cục CNQP) bày tỏ trăn trở: Việc làm chủ công nghệ hiện đại là thách thức rất lớn, nhất là với sản phẩm quốc phòng có mức độ tích hợp cao, đòi hỏi phải đồng thời làm chủ nhiều lĩnh vực công nghệ như thiết kế và mô phỏng khí động, vật liệu composite, vật liệu năng lượng, chế tạo đầu đạn, gia công cơ khí chính xác, nhiệt luyện, xử lý bề mặt, điều khiển bay, trí tuệ nhân tạo (AI), xử lý ảnh và tích hợp hệ thống. Việc xây dựng được chuỗi công nghệ đồng bộ, liên kết chặt chẽ từ nghiên cứu, thiết kế, chế tạo đến tổng lắp và nghiệm thu là yêu cầu rất cao, cần nhiều thời gian, nguồn lực và đội ngũ chuyên gia giỏi.
Vũ khí hiện đại ngày nay không còn là sản phẩm của một ngành kỹ thuật riêng lẻ mà là kết tinh của hàng loạt công nghệ cao, nhất là những công nghệ nền, công nghệ lõi. Chẳng hạn, một phương tiện bay không người lái (UAV) trinh sát thế hệ mới là sự tích hợp giữa khí động học, vật liệu, điện tử hàng không, AI, xử lý ảnh, dẫn đường vệ tinh, truyền dữ liệu tốc độ cao, công nghệ chống nhiễu, pin năng lượng, phần mềm điều khiển... Tương tự, các loại tên lửa, đạn dẫn đường hay vũ khí chống tăng thế hệ mới đều yêu cầu phải làm chủ thiết kế, mô phỏng số, vật liệu, động cơ, cảm biến, thuật toán điều khiển và quy trình chế tạo có độ chính xác gần như tuyệt đối.
 |
| Đoàn công tác Bộ Quốc phòng kiểm tra tiến độ nghiên cứu thiết kế, chế tạo vũ khí, trang bị tại Nhà máy Z125, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng, tháng 4-2026. Ảnh: CHÍ DŨNG |
Theo Thiếu tướng Phạm Thanh Khiết, Phó chủ nhiệm, Tham mưu trưởng Tổng cục CNQP, khó khăn lớn nhất hiện nay là xây dựng được hệ sinh thái công nghệ nội sinh. Nếu chỉ nhập khẩu dây chuyền hoặc tiếp nhận công nghệ mà không làm chủ thiết kế, công nghệ lõi và quy trình sản xuất thì rất khó chủ động chế tạo, nâng cấp, cải tiến sản phẩm để đáp ứng yêu cầu tác chiến hiện đại.
Những năm qua, ngành CNQP Việt Nam đã nghiên cứu, cải tiến, từng bước nâng cao tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm quốc phòng. Tuy nhiên, khoảng cách với trình độ công nghệ tiên tiến thế giới vẫn còn khá lớn, nhất là ở các lĩnh vực: Bán dẫn, vật liệu đặc chủng, cảm biến chính xác, động cơ hiệu suất cao, AI, công nghệ điều khiển thông minh... Mặt khác, khoa học-công nghệ (KHCN) quân sự đang phát triển rất nhanh, nếu trước đây một thế hệ vũ khí có thể tồn tại hàng chục năm thì hiện nay, nhiều công nghệ điều khiển, phần mềm và AI chỉ sau thời gian ngắn đã có thay đổi, cập nhật. Vì thế, nếu chúng ta không đổi mới liên tục, nguy cơ tụt hậu sẽ diễn ra ngay cả trên những lĩnh vực vừa mới làm chủ.
Công nghệ là “trái tim” của CNQP hiện đại và con người chính là nhân tố quyết định khả năng làm chủ công nghệ. Ngày nay, nghiên cứu chế tạo vũ khí cần đội ngũ chuyên gia AI, bán dẫn, vi điện tử, điều khiển tự động, robot, dữ liệu lớn, mô phỏng số, vật liệu mới, an toàn thông tin... Đây đều là những lĩnh vực đang có sự cạnh tranh rất lớn về nguồn nhân lực chất lượng cao giữa khu vực quốc phòng và các doanh nghiệp công nghệ.
Một thách thức khác là nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu. Biến động địa chính trị những năm gần đây cho thấy, nếu phụ thuộc vào linh kiện, vật liệu hoặc phần mềm nước ngoài luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Bởi vậy, mục tiêu của CNQP không chỉ dừng ở việc chế tạo sản phẩm hoàn chỉnh mà phải từng bước tự chủ từ khâu thiết kế, vật liệu, công nghệ chế tạo, thiết bị đo kiểm, phần mềm điều khiển đến bảo đảm kỹ thuật vòng đời sản phẩm...
Đồng bộ các giải pháp để CNQP bứt phá
Thực tiễn phát triển CNQP của nhiều quốc gia như Hàn Quốc, Israel, Thổ Nhĩ Kỳ, Italy, Nhật Bản... cho thấy, khoảng cách về trình độ KHCN không phải là rào cản, điều quan trọng là lựa chọn đúng hướng đi, xây dựng cơ chế đủ mạnh để huy động nguồn lực, phát huy sức mạnh của hệ thống đổi mới sáng tạo và kiên trì đầu tư cho công nghệ nền, công nghệ lõi.
Theo Trung tướng GS, TS Lê Minh Thái, Giám đốc Học viện Kỹ thuật Quân sự: Lợi thế lớn nhất của quốc gia đi sau là không phải lặp lại toàn bộ con đường phát triển mà các nước đi trước đã trải qua. Thay vào đó, có thể lựa chọn những công nghệ tiên tiến nhất, tận dụng thành tựu khoa học của thế giới để rút ngắn quá trình nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và hiện đại hóa VKTBKT.
 |
| Tổng lắp sản phẩm quốc phòng ở Nhà máy Z129, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng. Ảnh: NAM TUẤN |
Để làm được điều đó, trước hết phải quán triệt sâu sắc các chủ trương của Đảng về phát triển CNQP, KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số vào quy trình nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, thử nghiệm và bảo đảm kỹ thuật. Các viện nghiên cứu, học viện, nhà trường, doanh nghiệp trong và ngoài Quân đội cần kết nối chặt chẽ trong chuỗi: Đặt hàng, nghiên cứu, thử nghiệm, sản xuất, hoàn thiện. Khi các chủ thể cùng tham gia ngay từ khâu xác định yêu cầu đến thử nghiệm và hoàn thiện sản phẩm thì sẽ tạo được sự vào cuộc đồng bộ, thống nhất, tạo sức mạnh tổng hợp; khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng sẽ được thu hẹp, hạn chế tình trạng kết quả nghiên cứu chậm được đưa vào thực tiễn.
Thiếu tướng Dương Minh Hải, Cục trưởng Cục Khoa học quân sự (Bộ Quốc phòng) cho rằng: Mục tiêu của ngành CNQP là từng bước cải tiến, sáng tạo và làm chủ công nghệ mới; cốt lõi là xây dựng năng lực thiết kế độc lập đối với các sản phẩm trọng điểm, từ đó chủ động phát triển các thế hệ sản phẩm tiếp theo; hạn chế tối đa sự phụ thuộc vào nguồn cung và công nghệ từ bên ngoài. Để làm được điều này, cùng với nghiên cứu, chế tạo, cần từng bước xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc phòng tiệm cận trình độ quốc tế. Làm chủ tiêu chuẩn đồng nghĩa với làm chủ quy trình thiết kế, thử nghiệm, đánh giá chất lượng, nâng cấp và bảo đảm kỹ thuật trong suốt vòng đời VKTBKT. Khi từng bước làm chủ các mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng, CNQP sẽ nâng cao tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm, tiến tới làm chủ toàn bộ.
Để làm chủ công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định. Thực hiện chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, những năm gần đây, Học viện Kỹ thuật Quân sự và một số trường Quân đội đã mở nhiều ngành đào tạo mới, như: AI, thiết kế chế tạo tên lửa, UAV, vi mạch, bán dẫn, hệ thống nhúng, công nghệ nano, an toàn thông tin, điều khiển tự động... Đây đều là những lĩnh vực có ý nghĩa quyết định đối với năng lực cạnh tranh của CNQP trong tương lai.
Cùng với đào tạo là xây dựng cơ chế thu hút, trọng dụng và đãi ngộ đội ngũ nhà khoa học, nhất là các chuyên gia đầu ngành, tổng công trình sư. Là đơn vị có vai trò hạt nhân trong xây dựng tổ hợp CNQP công nghệ cao, Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội (Viettel) xác định phát triển nguồn nhân lực CNQP công nghệ cao theo 3 lớp, đem lại hiệu quả tốt. Cụ thể: Lớp thứ nhất là đội ngũ tổng công trình sư, nhà khoa học đầu ngành, chuyên gia công nghệ lõi thì phát hiện và đào tạo nhân tài từ chính các dự án thực tế; giao nhiệm vụ đủ khó, quyền hạn tương xứng và cơ chế chịu trách nhiệm rõ ràng. Lớp thứ hai là đội ngũ chuyên gia, kỹ sư nòng cốt ở từng lĩnh vực công nghệ thì thu hút nhân lực trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài và các chuyên gia quốc tế phù hợp; áp dụng cơ chế tuyển dụng, sử dụng và đãi ngộ theo năng lực, mức độ đóng góp và đặc thù của từng dự án. Lớp thứ ba là lực lượng kỹ sư trẻ, nghiên cứu viên và sinh viên tài năng.
 |
| Vận hành dây chuyền sản xuất hiện đại ở Nhà máy Z129, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng. Ảnh: NAM TUẤN |
Theo các chuyên gia ngành CNQP, việc đầu tư đồng bộ các trung tâm nghiên cứu hiện đại, phòng thí nghiệm trọng điểm, hệ thống gia công công nghệ cao đa trục, dây chuyền sản xuất tự động, nhà máy thông minh, hệ thống quản trị số... cũng hết sức quan trọng, vì đây là cơ sở để nâng cao chất lượng, độ chính xác và khả năng nâng cấp của các loại VKTBKT thế hệ mới.
Cùng với đó, cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý KHCN theo hướng giao nhiệm vụ gắn với sản phẩm cuối cùng, lấy hiệu quả thực tiễn làm thước đo, tăng quyền tự chủ cho các tổ chức nghiên cứu, mạnh dạn phân cấp, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và rút ngắn quy trình nghiệm thu. Mở rộng hợp tác giữa các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp trong và ngoài Quân đội; thúc đẩy mô hình kết hợp quốc phòng với kinh tế, khoa học quân sự với khoa học dân sự; phát huy vai trò của doanh nghiệp công nghệ trong nghiên cứu, phát triển các công nghệ lưỡng dụng. Đây là hướng đi phù hợp với xu thế phát triển của nhiều nền CNQP tiên tiến trên thế giới.
| Ngày 6-8-2026, tại Hội nghị báo cáo kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW ngày 29-1-2025 của Quân ủy Trung ương về đột phá phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân đội, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tiếp tục nhấn mạnh: Quyết tâm sản xuất VKTB hiện đại, nỗ lực đi sau nhưng không chậm và phải bứt phá vượt lên. Phải chuyển mạnh từ xây dựng chủ trương, kế hoạch sang tổ chức thực hiện thực chất, hiệu quả; từ năng lực đề ra chủ trương, xây dựng kế hoạch sang năng lực tổ chức thực thi; lấy sản phẩm, tiến độ, chất lượng và khả năng ứng dụng trong thực tiễn làm thước đo; kiên quyết không để nhiệm vụ chỉ dừng ở nghiên cứu, báo cáo khả thi, ở trạng thái "đang làm"... |