“Đi sau nhưng không chậm” là quyết tâm chiến lược đối với sự phát triển CNQP Việt Nam trong bối cảnh chiến tranh hiện đại ngày càng mở rộng; thực tế sức mạnh của các quốc gia nói chung, sức mạnh quân sự nói riêng hiện nay được thể hiện chính ở năng lực làm chủ và ứng dụng các công nghệ mới. CNQP Việt Nam xác định nỗ lực vượt thách thức, quyết tâm không để chậm trong tư duy, tốc độ đổi mới và khả năng làm chủ công nghệ.
 |
Thủ trưởng Bộ Quốc phòng cùng các đại biểu tham quan trưng bày vũ khí, trang bị tại Hội nghị quân chính toàn quân 6 tháng đầu năm 2026. Ảnh: TRỌNG HẢI
|
Vì sao công nghiệp quốc phòng Việt Nam đi sau?
Việt Nam bước vào quá trình hiện đại hóa CNQP muộn hơn là thực tế khách quan xuất phát từ điều kiện lịch sử. Nhiều năm bị ngoại xâm đô hộ, thực dân, đế quốc, các thế lực thù địch xâm lược, đánh phá nên ưu tiên hàng đầu của đất nước sau khi giành được độc lập, thống nhất Tổ quốc là khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội. Cũng do nhiều năm phải gánh chịu chiến tranh nên nền công nghiệp quốc gia bị hạn chế, năng lực nghiên cứu, chế tạo công nghệ cao chưa phát triển đồng bộ; nhiều công nghệ lõi, vật liệu mới, vi điện tử, động cơ, bán dẫn... vẫn phụ thuộc vào nước ngoài. Trong khi đó, các quốc gia phát triển đã đầu tư hàng chục năm, thậm chí hàng thế kỷ để hình thành hệ sinh thái quốc phòng hiện đại.
Bên cạnh đó, đặc thù của lĩnh vực quốc phòng là các công nghệ chiến lược luôn bị kiểm soát chặt chẽ, rất khó tiếp cận thông qua chuyển giao; mặt khác, nếu chỉ nhận chuyển giao thì vẫn bị phụ thuộc. Do đó, Đảng, Nhà nước xác định con đường phát triển CNQP không thể đi theo lối “mua công nghệ” mà phải chủ động, từng bước nghiên cứu, làm chủ.
Thiếu tướng, PGS, TS Đoàn Hùng Minh, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục CNQP cho biết: Phát triển CNQP hiện đại trước hết nhằm bảo đảm độc lập, tự chủ chiến lược. Nếu phụ thuộc vào nguồn cung từ bên ngoài, trong điều kiện khủng hoảng, xung đột hoặc bị cấm vận, việc bảo đảm VKTBKT sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Trong khi đó, chiến tranh hiện đại diễn biến rất nhanh, yêu cầu cải tiến, nâng cấp vũ khí diễn ra liên tục. Chỉ khi làm chủ nghiên cứu, thiết kế, sản xuất và bảo đảm kỹ thuật, chúng ta mới chủ động đáp ứng yêu cầu tác chiến trong mọi tình huống. Không những thế, CNQP còn là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp quốc gia. Những công nghệ được làm chủ trong lĩnh vực quốc phòng đều có thể ứng dụng các ngành dân sự như cơ khí chính xác, điện tử, vật liệu mới, trí tuệ nhân tạo (AI), viễn thông, tự động hóa, bán dẫn... Đây cũng là lý do nhiều quốc gia coi CNQP là một trong những động lực đổi mới sáng tạo quốc gia.
Đi sau nhưng không được chậm
Nếu trước đây phải mất hàng chục năm để hoàn thiện một thế hệ công nghệ thì ngày nay, sự phát triển bùng nổ của khoa học-công nghệ đã tạo ra cơ hội để các nước đi sau rút ngắn khoảng cách bằng cách tiếp cận trực tiếp những thành tựu mới. Trung tướng, GS, TS Lê Minh Thái, Giám đốc Học viện Kỹ thuật Quân sự nhận định: Lợi thế của quốc gia đi sau là không phải lặp lại toàn bộ quá trình thử nghiệm kéo dài mà có thể lựa chọn ngay những công nghệ tiên tiến, tập trung nguồn lực vào các lĩnh vực có khả năng tạo bước nhảy vọt.
 |
|
Thủ trưởng Bộ Quốc phòng cùng các đại biểu tham quan trưng bày vũ khí, trang bị tại Lễ công bố thành lập Cục Phương tiện không người lái (Bộ Tổng Tham mưu), tháng 6-2026. Ảnh: TUẤN HUY
|
Đó cũng chính là nội hàm của tư duy “nỗ lực vượt thách thức, đi sau nhưng không chậm” mà lãnh đạo Bộ Quốc phòng đã nhấn mạnh. “Không chậm” không có nghĩa là rút ngắn quy trình nghiên cứu bằng cách làm tắt hay bỏ qua các bước kiểm chứng khoa học; mà “không chậm” là đổi mới tư duy phát triển, không dàn trải nguồn lực, không chạy theo số lượng sản phẩm, tập trung vào những công nghệ có khả năng tạo ưu thế bất đối xứng, phát huy sức mạnh tổng hợp của Quân đội, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia.
Theo các đồng chí lãnh đạo Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội (Viettel), phát triển VKTBKT hiện đại hiện nay không còn là câu chuyện riêng của ngành quân sự mà là sự hội tụ của nhiều lĩnh vực công nghệ cao. Các sản phẩm quốc phòng thế hệ mới đều tích hợp AI, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, cảm biến thông minh, vi mạch, tự động hóa... Vì vậy, muốn tạo ra sản phẩm đáp ứng yêu cầu tác chiến hiện đại thì phải đồng thời làm chủ nhiều công nghệ nền, công nghệ lõi.
Muốn không chậm thì phải làm gì? Câu trả lời là chúng ta phải có tư duy đổi mới mạnh mẽ, đi trước đón đầu, đẩy nhanh cả quá trình khảo cứu, nghiên cứu, hành động quyết liệt, khoa học, sát với điều kiện thực tiễn. Theo Thiếu tướng Dương Minh Hải, Cục trưởng Cục Khoa học quân sự (Bộ Quốc phòng), thời gian qua, Bộ Quốc phòng tập trung triển khai 4 nhóm giải pháp trọng tâm: Ưu tiên phát triển các công nghệ chiến lược; hoàn thiện cơ chế, chính sách; xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao; tăng cường liên kết nghiên cứu giữa Quân đội, doanh nghiệp, nhà trường và các viện nghiên cứu.
Có thể thấy, CNQP của nước ta từ phát triển đơn lẻ đã và đang chuyển sang xây dựng hệ sinh thái; từ nghiên cứu tách rời sang gắn nghiên cứu với nhu cầu trang bị của đơn vị và năng lực sản xuất của nhà máy. Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia, thách thức hiện nay không còn nằm ở quyết tâm mà ở tốc độ chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm. Không ít đề tài khoa học đạt kết quả tốt trong phòng thí nghiệm nhưng quá trình thử nghiệm, tiêu chuẩn hóa, hoàn thiện công nghệ và sản xuất loạt còn kéo dài. Nếu khoảng cách giữa nghiên cứu và sản xuất không được rút ngắn thì lợi thế công nghệ sẽ nhanh chóng mất đi trong bối cảnh chu kỳ đổi mới ngày càng ngắn. Vì vậy, cùng với đầu tư trọng điểm, yêu cầu đặt ra là hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa nhà khoa học, nhà máy và đơn vị sử dụng; tăng quyền chủ động cho các cơ sở nghiên cứu; thúc đẩy đổi mới sáng tạo; phát triển đội ngũ chuyên gia công nghệ cao, tổng công trình sư và hình thành chuỗi nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm, sản xuất đồng bộ.
Những chuyển động khẳng định hướng đi đúng
Trước đây, chúng ta chủ yếu tập trung sửa chữa, cải tiến và sản xuất một số loại vũ khí, trang bị truyền thống; hiện nay, nhiều đơn vị đã chuyển mạnh sang nghiên cứu, thiết kế và chế tạo các sản phẩm công nghệ cao. Đơn cử như Tổng cục CNQP đang triển khai nhiều chương trình trọng điểm phát triển tổ hợp vũ khí chống tăng thế hệ mới, tên lửa phòng không tầm thấp, phương tiện bay không người lái (UAV) và nhiều sản phẩm công nghệ cao khác.
Sự chuyển động này không diễn ra riêng lẻ mà đang hình thành mạng lưới nghiên cứu, thiết kế và chế tạo với sự tham gia của các nhà máy quốc phòng, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, học viện, nhà trường trong và ngoài Quân đội trên cơ sở triển khai các nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển CNQP.
Theo Thiếu tướng Dương Minh Hải, Bộ Quốc phòng đang triển khai làm nhiều sản phẩm công nghệ chiến lược như tàu quân sự, tổ hợp pháo nhiệt áp, hệ thống chống UAV, hệ thống thông minh ứng dụng AI và dữ liệu lớn; đồng thời chuẩn bị triển khai thêm nhiều sản phẩm chiến lược mới. Đây đều là những nhiệm vụ có quy mô lớn, đòi hỏi làm chủ nhiều công nghệ nền và công nghệ lõi, tạo nền tảng quan trọng để phát triển các thế hệ VKTBKT hiện đại trong thời gian tới, từng bước thay thế một số loại vũ khí, trang bị thế hệ cũ.
| Phát biểu tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025-2030, Tổng Bí thư (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước) Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương đánh giá: Quân ủy Trung ương đã chỉ đạo toàn quân thực hiện tốt Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 26-1-2022 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh phát triển CNQP đến năm 2030 và những năm tiếp theo, với nhiều kết quả và thành công đột phá; đặc biệt là chúng ta đã làm chủ được một số công nghệ nền, công nghệ lõi, nghiên cứu, chế tạo thành công nhiều chủng loại VKTBKT hiện đại. Đó là các tổ hợp tên lửa, xe chiến đấu bộ binh, xe thiết giáp chở quân, pháo tự hành, pháo tàu, UAV và nhiều vũ khí, trang bị, phương tiện hiện đại khác. Đây là tiền đề rất quan trọng để tiến nhanh, mạnh hơn trong lộ trình hiện đại hóa Quân đội. |
(còn nữa)