Tự hào những sản phẩm của người Việt

Hiện nay, Việt Nam đã tự chủ trong chế tạo nhiều dòng súng bộ binh thế hệ mới STV, nổi bật là súng tiểu liên STV-380 với quy trình công nghệ khép kín từ tạo phôi đến gia công, tổng lắp và thử nghiệm, hoàn thiện sản phẩm. Đây là bước tiến lớn của ngành CNQP nước ta.

Một minh chứng tiêu biểu khác là tổ hợp tên lửa Trường Sơn (VCS-01) do Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội (Viettel) tự chủ hoàn toàn từ nghiên cứu, thiết kế đến chế tạo và lần đầu tiên được công bố tại Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam 2024. Tổ hợp tên lửa Trường Sơn đã trở thành một trong những thành phần nòng cốt của hệ thống phòng thủ bờ biển với uy lực mạnh, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo Tổ quốc.

Phương tiện bay không người lái do Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội sản xuất. Ảnh: TUẤN HUY 

Xe chiến đấu bộ binh XCB-01, XCB-02 và xe thiết giáp chở quân chiến đấu XTC-02 cũng thu hút sự quan tâm lớn của giới chuyên gia quân sự, các đối tác và truyền thông quốc tế. Đây là kết quả sự hợp tác của nhiều đơn vị nghiên cứu và các nhà máy trong ngành CNQP. Theo lãnh đạo Tổng cục CNQP, xe XCB-01 đã được sản xuất, đưa vào sử dụng thử nghiệm và tham gia thực hiện nhiệm vụ A80, trước khi chuyển sang giai đoạn sản xuất hàng loạt. Hiện nay, Tổng cục CNQP đang đẩy nhanh nghiên cứu, chế tạo xe thiết giáp chở quân chiến đấu thế hệ mới với thiết kế tiên tiến, tính năng hiện đại.

Xác định phương tiện bay không người lái (UAV) có vai trò ngày càng quan trọng trong tác chiến hiện đại, Tập đoàn Viettel đã tạo dựng được chuỗi năng lực UAV hoàn chỉnh từ trinh sát, chỉ thị mục tiêu đến tác chiến đa nhiệm, tấn công cảm tử, tương đương mô hình, công nghệ mà các cường quốc quân sự đang áp dụng...

Trên đây là một số ví dụ trong nhiều sản phẩm tiên tiến do ngành CNQP nghiên cứu, chế tạo và đưa vào biên chế ở các đơn vị. Mỗi tổ hợp vũ khí, mỗi thiết bị khí tài mang thương hiệu Việt Nam hôm nay chính là minh chứng sinh động cho sự chủ động, tích cực và sức mạnh tự lực, tự cường.

 Tổ hợp tên lửa Trường Sơn do Việt Nam tự chủ sản xuất. Ảnh: TUẤN HUY

Từ khát vọng tự chủ đến sự sáng tạo, bứt phá

Sự phát triển của nền CNQP không chỉ nằm ở hệ thống dây chuyền máy móc mà chủ yếu được kết tinh từ trí tuệ và tinh thần cống hiến, sáng tạo của đội ngũ nhân lực chất lượng cao. Ví dụ rõ nét đầu tiên cho tinh thần tự chủ ấy phải kể đến quyết tâm bảo vệ vùng trời quốc gia bằng chính công nghệ nội địa. Cách đây hơn chục năm, trước yêu cầu ngày càng cao về quản lý, bảo vệ vùng trời quốc gia, nhóm kỹ sư trẻ của Viện Nghiên cứu và Phát triển Viettel (nay là Tổng công ty Công nghiệp Công nghệ cao Viettel-VHT) thuộc Tập đoàn Viettel bắt tay vào chế tạo hệ thống cảnh giới và bảo vệ vùng trời VQ giai đoạn 1. Đây là công nghệ mà trước đó chưa một đơn vị nào trong nước thực hiện, trong bối cảnh một đối tác nước ngoài khi ấy đã “chào hàng” hệ thống tương tự tới Tập đoàn Viettel với giá hàng trăm triệu USD.

Thấu hiểu những hạn chế của việc phải nhập khẩu các loại VKTBKT, nhất là bị phụ thuộc về bảo đảm kỹ thuật và yếu tố bảo mật, kỹ sư Lê Trần Sự (nay là Trung tá, Phó giám đốc Khối Quân sự, Tổng công ty VHT) cùng các cộng sự khi đó quyết tâm tự chủ công nghệ. Nhóm đã khẩn trương triển khai nghiên cứu, làm chủ được công nghệ từ thiết kế nguyên lý đến viết phần mềm điều khiển toàn bộ hoạt động của hệ thống chỉ huy điều khiển. Kết quả, hệ thống VQ1-M đã được nghiệm thu thành công và chính thức đưa vào hoạt động, đánh dấu lần đầu tiên Việt Nam có hệ thống công nghệ cao do chính doanh nghiệp trong nước làm chủ và sản xuất, đưa vào trang bị phục vụ quân sự. Trên cơ sở kế thừa sản phẩm VQ1-M, các kỹ sư tiếp tục nghiên cứu hệ thống VQ2 và hệ thống này đã được triển khai lắp đặt cho các đầu mối của Quân chủng Phòng không-Không quân.

Ứng dụng robot vào sản xuất quốc phòng ở Nhà máy Z131 (Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng). Ảnh: NAM TUẤN 

Tại Nhà máy A45 (Quân chủng Phòng không-Không quân), Đại úy Đào Văn Hiệp khi mới về công tác tại đơn vị đã được chỉ huy giao một nhiệm vụ đầy thử thách: Nghiên cứu khai thác và sửa chữa vũ khí, khí tài trên dòng tiêm kích SU-30МK2. Những ngày đầu, anh gặp rất nhiều khó khăn bởi SU-30МK2 là máy bay hiện đại, các loại trang bị kỹ thuật được thiết kế, chế tạo dạng module, panel nhiều lớp; trong khi tài liệu, hướng dẫn không đầy đủ, thậm chí không có để tham khảo. Không chùn bước, Đào Văn Hiệp miệt mài nghiên cứu, tranh thủ ý kiến chỉ đạo của cấp trên và học hỏi những đồng nghiệp giàu kinh nghiệm. Từ đó, anh đã tìm ra hướng “chữa bệnh” đột phá: Sử dụng phương pháp thiết kế ngược các sơ đồ, nguyên lý hoạt động để kiểm tra và giải mã, nhờ đó từng bước khắc phục thành công các hỏng hóc của máy bay SU-30МK2. Từ phương pháp này, hàng loạt đề tài, sáng kiến đã được Đại úy Đào Văn Hiệp cùng cộng sự nghiên cứu và triển khai hiệu quả, như: Thiết kế ngược sơ đồ mạch điện và thuật toán kiểm tra trên các máy tính; thiết kế ngược sơ đồ mạch điện các khối điều khiển trong máy tính K-60 thuộc tổ hợp điều khiển КСУ-130 trên máy bay YAK-130...

Nếu các kỹ sư, nhà khoa học có khát vọng giải những bài toán công nghệ cao, thì đội ngũ lính thợ cũng luôn trăn trở làm thế nào để tạo ra sản phẩm quốc phòng hiệu quả và thiết thực phục vụ công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu. Đầu năm 2025, với mong muốn cần có loại thiết bị tạo giả bom, đạn, thuốc nổ “như thật” để phục vụ huấn luyện, diễn tập, giúp bộ đội làm quen với chiến trường, đồng thời bảo đảm an toàn tuyệt đối cho người sử dụng, nhóm nghiên cứu do Thiếu tá Nguyễn Dương Mạnh (Nhà máy Z113, Tổng cục CNQP) phụ trách đã vận dụng nguyên lý cháy nổ hỗn hợp thuốc hỏa thuật để tạo hiệu ứng âm thanh và khói bụi, làm quả nổ tạo giả QN13 có thể kích nổ bằng xung điện. Quả nổ này mô phỏng được độ lớn và đanh của âm thanh, độ dày của khói bụi như thuốc nổ thật, song lại an toàn cho người sử dụng và khắc phục được hiện tượng “nổ lây” (nguy cơ rất dễ xảy ra khi nhiều quả nổ được đặt sát nhau trên thao trường). Quả nổ QN13 còn có thể ngâm nước ở độ sâu 1m trong 24 giờ vẫn hoạt động bình thường, đáp ứng điều kiện diễn tập khi trời mưa hoặc ở địa hình ngập nước. Sản phẩm hữu dụng này không chỉ phục vụ công tác huấn luyện, diễn tập của Quân đội ta mà còn hướng tới xuất khẩu.

Hiện nay, được sự quan tâm đầu tư của Đảng, Nhà nước, cùng với đội ngũ nhân lực chất lượng cao giàu tâm huyết, khát vọng, ngành CNQP Việt Nam cơ bản có đủ năng lực tự chủ từ nghiên cứu đến sản xuất hầu hết các loại VKTBKT hiện đại cho lục quân, thông tin liên lạc. Đặc biệt, một số loại vũ khí có ý nghĩa chiến lược như tên lửa, UAV, tàu quân sự, xe chiến đấu... đã sản xuất loạt "0". Kết quả đó cho thấy ngành CNQP Việt Nam đã bứt phá khỏi giới hạn “sửa chữa, cải hoán” đơn thuần, từng bước vươn lên. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội hiện đại, đủ sức mạnh bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa trong tình hình mới, đòi hỏi ngành CNQP phải tiếp tục phấn đấu bứt phá mạnh mẽ, nâng cao năng lực làm chủ công nghệ sản xuất VKTBKT hiện đại theo đúng phương châm "nỗ lực vượt thách thức, đi sau nhưng không chậm".

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã xác định yêu cầu đẩy mạnh phát triển CNQP, công nghiệp an ninh tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại. Đây là sự phát triển nhất quán trong tư duy của Đảng về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đặt CNQP, công nghiệp an ninh vào vị trí then chốt của năng lực tự chủ chiến lược quốc gia.

Theo các chuyên gia, để có nền CNQP tự chủ, hiện đại thì phải đặc biệt ưu tiên phát triển mạnh nguồn nhân lực chất lượng cao, vì đây là nhân tố căn cơ, quyết định. Đội ngũ cán bộ quản lý, nhà khoa học, kỹ sư, công nhân quốc phòng phải vừa có trình độ cao, vừa có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, kỷ luật nghiêm, tinh thần cống hiến, phụng sự Tổ quốc.

 

(còn nữa)