Ủy thác điều tra, xét đúng bản chất pháp lý, không thể thay thế cho thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra. Dự thảo này nếu được thông qua, sẽ dẫn đến thu hẹp về thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân. Trong quá trình xây dựng dự thảo luật, quan điểm nhất quán của Bộ Quốc phòng đề nghị giữ nguyên thẩm quyền điều tra của các cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân như hiện nay.
Nội dung trong dự thảo đang thu hút sự quan tâm của cán bộ công tác thực tiễn, cũng như các nhà khoa học, cụ thể: Khi vụ án hình sự có bị hại hoặc người phạm tội là quân nhân, nhưng vụ việc không liên quan bí mật quân sự, không xảy ra trong doanh trại hay khu vực quân sự thì cơ quan điều tra trong Công an nhân dân vẫn tiến hành điều tra và ủy thác cho cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân thực hiện các hoạt động điều tra về các tình tiết liên quan đến nhân thân bị hại hoặc người phạm tội, thi hành biện pháp ngăn chặn bắt, giữ người trong trường hợp khẩn cấp, khám xét, thu giữ vật chứng, đồ vật, tài liệu trong doanh trại Quân đội hoặc khu vực quân sự do Quân đội nhân dân quản lý, bảo vệ.
Về hình thức, có vẻ như đây là một giải pháp hợp lý: Ai thụ lý chính thì người đó giữ quyền quyết định, còn phần việc nào cần đến đặc thù quân sự thì ủy thác cho cơ quan có chuyên môn thực hiện. Nhưng cách hiểu này bỏ qua một điều cơ bản trong tố tụng hình sự: Ủy thác điều tra và thẩm quyền điều tra là hai chế định hoàn toàn khác nhau về bản chất, không thể dùng cái này để thay cho cái kia.
Bản chất của ủy thác điều tra
Bản chất của ủy thác điều tra là cơ chế phối hợp, hỗ trợ hoạt động tố tụng giữa các cơ quan điều tra khi cần thực hiện một hoặc một số hoạt động điều tra cụ thể. Nội dung ủy thác có phạm vi xác định và giới hạn rõ ràng; cơ quan được ủy thác chỉ thực hiện đúng những công việc được yêu cầu trong thời hạn nhất định.
 |
| Quang cảnh một phiên tòa. Ảnh minh họa: qdnd.vn |
Ủy thác điều tra không làm phát sinh thẩm quyền điều tra độc lập, cơ quan điều tra nhận ủy thác không có quyền tự mình mở rộng phạm vi điều tra khi phát hiện những tình tiết mới ngoài nội dung được giao, cũng không có quyền quyết định phương hướng điều tra hoặc đánh giá toàn diện chứng cứ của vụ án. Nhiệm vụ của cơ quan được ủy thác chỉ là tiến hành các hoạt động điều tra theo yêu cầu, thu thập tài liệu, chứng cứ và chuyển giao kết quả cho cơ quan đã ra quyết định ủy thác.
Nói cách khác, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định chế định ủy thác điều tra như một cơ chế hỗ trợ trong quá trình điều tra khi có yêu cầu khách quan về địa bàn hoặc điều kiện tổ chức thực hiện một số hoạt động điều tra, không coi đây là căn cứ để xác định hoặc thay thế thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra. Hai chế định này khác nhau về bản chất: Thẩm quyền điều tra gắn với quyền thụ lý, tổ chức và quyết định toàn bộ quá trình điều tra vụ án; còn ủy thác điều tra chỉ là việc thực hiện một hoặc một số hoạt động tố tụng riêng lẻ trong phạm vi, thời hạn và nội dung do cơ quan có thẩm quyền xác định.
Khi thẩm quyền điều tra bị giới hạn bằng cơ chế ủy thác điều tra
Việc giới hạn thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và thay thế bằng cơ chế ủy thác điều tra sẽ làm thay đổi bản chất hoạt động của cơ quan điều tra. Theo đó, cơ quan điều tra trong Quân đội sẽ không còn trực tiếp thụ lý, tổ chức điều tra và chịu trách nhiệm toàn diện đối với vụ án thuộc phạm vi quản lý của mình, mà chủ yếu chỉ thực hiện một số hoạt động điều tra theo yêu cầu của cơ quan điều tra đang thụ lý vụ án.
Trong cơ chế này, cơ quan điều tra trong Quân đội không được quyết định phương hướng điều tra, không có quyền đánh giá tổng thể hệ thống chứng cứ để xác định sự thật khách quan của vụ án. Mọi hoạt động đều bị giới hạn trong phạm vi, nội dung và thời hạn của quyết định ủy thác. Điều đó đồng nghĩa với việc vai trò của cơ quan điều tra được thu hẹp từ chủ thể tiến hành tố tụng có đầy đủ thẩm quyền thành chủ thể chỉ hỗ trợ thực hiện một số hoạt động tố tụng riêng lẻ.
Đối với các vụ án liên quan đến quân nhân, hành vi phạm tội thường không chỉ được xem xét dưới góc độ vi phạm pháp luật hình sự mà còn gắn với việc chấp hành điều lệnh, điều lệ, chế độ công tác, quan hệ chỉ huy-phục tùng, nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ bí mật Nhà nước, bí mật quân sự và nhiều quy định quản lý nội bộ của Quân đội. Những yếu tố này chỉ có thể được đánh giá đầy đủ khi cơ quan điều tra có quyền trực tiếp thụ lý và điều tra toàn bộ vụ án, thay vì chỉ tham gia từng phần theo yêu cầu của cơ quan khác.
Ủy thác điều tra chỉ có ý nghĩa là cơ chế phối hợp nhằm hỗ trợ cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số hoạt động điều tra cụ thể, không phải là cơ sở để thay thế hoặc thu hẹp thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân. Việc sử dụng cơ chế ủy thác như một giải pháp thay cho thẩm quyền điều tra không chỉ làm thay đổi nguyên tắc phân định thẩm quyền trong tố tụng hình sự mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả quản lý Nhà nước về quốc phòng, giữ gìn kỷ luật Quân đội và bảo đảm yêu cầu bảo vệ bí mật quân sự.
Thẩm quyền điều tra không chỉ là quyền tiến hành một số hoạt động điều tra mà còn bao gồm quyền chủ động xác định hướng điều tra, lựa chọn trình tự, biện pháp điều tra, kiểm tra, đánh giá toàn bộ hệ thống chứng cứ và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả điều tra. Đây là một chỉnh thể thống nhất, không thể tách rời thành các phần việc riêng lẻ. Khi cơ quan điều tra không còn quyền thụ lý vụ án thì dù vẫn được giao thực hiện một số hoạt động theo ủy thác, cơ quan đó cũng không còn khả năng phát huy đầy đủ chuyên môn, kinh nghiệm và hiểu biết đặc thù để làm rõ bản chất vụ án.
Một vụ án, hai cơ chế, hai trách nhiệm không rõ ràng
Quy định này còn dẫn đến tình trạng một vụ án do hai cơ quan điều tra cùng tham gia theo hai cơ chế khác nhau: Cơ quan điều tra của Công an chịu trách nhiệm điều tra toàn bộ vụ án, còn cơ quan điều tra Quân đội chỉ điều tra theo ủy thác đối với một số nội dung nhất định. Điều này làm phát sinh khó khăn trong xác định trách nhiệm tố tụng đối với kết quả điều tra, giá trị chứng cứ, cũng như trách nhiệm khi xảy ra thiếu sót hoặc phải điều tra bổ sung. Nếu một tình tiết xác minh theo ủy thác sau này bị phát hiện sai sót thì trách nhiệm thuộc cơ quan nào? Luật hiện hành không có câu trả lời, vì ủy thác điều tra chưa từng được thiết kế để hai cơ quan cùng gánh trách nhiệm trong một vụ án.
Không chỉ trách nhiệm, việc kiểm tra, đánh giá tính hợp pháp của chứng cứ cũng trở nên phức tạp hơn. Cơ quan điều tra thụ lý vụ án phải sử dụng kết quả điều tra do cơ quan khác thực hiện theo ủy thác nhưng lại là chủ thể chịu trách nhiệm cuối cùng về hồ sơ vụ án. Trong trường hợp cần đối chất, thực nghiệm điều tra, nhận dạng hoặc tiến hành các hoạt động điều tra bổ sung liên quan trực tiếp đến những chứng cứ đã được thu thập theo ủy thác thì việc phối hợp giữa hai cơ quan sẽ phát sinh thêm thời gian, thủ tục và nguy cơ ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết vụ án.
Quy định này vì vậy đi ngược lại chính mục tiêu chính sách xây dựng luật là “nghiên cứu, hoàn thiện quy định về thẩm quyền của các cơ quan điều tra trong hệ thống nhằm khắc phục tình trạng chồng chéo”. Thay vì một quy trình liền mạch do một cơ quan chịu trách nhiệm toàn diện, vụ án bị “cắt lát” thành nhiều đoạn nhỏ, trong đó có đoạn được xử lý qua ủy thác, rồi mới được ghép lại.
Trong tố tụng hình sự, cơ quan nào có thẩm quyền điều tra thì cơ quan đó phải chịu trách nhiệm toàn diện về quá trình điều tra; cơ quan khác chỉ hỗ trợ trong phạm vi cần thiết. Đây cũng là cơ sở bảo đảm tính thống nhất của hoạt động điều tra, trách nhiệm tố tụng và khả năng kiểm soát tính hợp pháp của chứng cứ. Do đó, ủy thác điều tra được thiết kế nhằm hỗ trợ cơ quan điều tra khi có khó khăn về địa bàn hoặc điều kiện tổ chức thực hiện một số hoạt động điều tra cụ thể, chứ không nhằm thay thế cơ chế phân định thẩm quyền giữa các hệ thống cơ quan điều tra. Nếu coi việc tăng cường ủy thác điều tra là giải pháp thay cho việc giao thẩm quyền trực tiếp thì ranh giới giữa hai chế định sẽ bị xóa nhòa.
Vì vậy, ủy thác điều tra là cơ chế hỗ trợ tố tụng cần thiết nhưng chỉ phát huy giá trị khi được đặt đúng vị trí pháp lý của nó. Việc sử dụng cơ chế này để thay thế hoặc thu hẹp thẩm quyền điều tra không chỉ làm thay đổi nguyên tắc của Bộ luật Tố tụng hình sự mà còn làm suy giảm tính chuyên môn hóa của hệ thống cơ quan điều tra, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả quản lý quân nhân, giữ nghiêm kỷ luật Quân đội và bảo đảm thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng.