Uống rượu ở chợ Sà Phìn (Đồng Văn)
Chủ tịch UNND xã Sủng Trà (huyện Mèo Vạc, Hà Giang) Hồng Mý Sinh là một thanh niên người Mông rắn chắc như cây gỗ nghiến. Sinh chở tôi bằng xe máy Min-xkơ trên con đường về bản Sủng Pờ A cheo leo, một bên là vực sâu, một bên là vách núi. Xung quanh các mỏm đá xám là màu xanh mượt mà của ngô. Sinh bảo với tôi rằng: Để có màu xanh ấy, đồng bào Mông ở đây đã phải gùi đất từ các khe núi mang đổ vào hốc đá để trồng cây. Gieo ngô trên đá là vậy. Các cán bộ từ dưới xuôi lên đây gieo cái chữ, gieo niềm tin, cán bộ nhân viên Ngân hàng chính sách xã hội đã "gieo tiền" trên đá để đồng tiền của Chính phủ sinh sôi, nảy nở, đời sống của bà con ấm no...

Cao nguyên đá: Đẹp và... nghèo

Trở lại Hà Giang lần này, ấn tượng chung của chúng tôi là đường sá đã tốt hơn trước, tuy vẫn quanh co đèo dốc, nhưng không còn những “ổ trâu”, “ổ bò” như 10 năm trước đây. Đồng nghiệp của tôi ở Hà Giang giải thích: Đó là thành quả của “đại công trường xây dựng” trong thời điểm “chuyển giao thế kỷ 20 và 21”. Tuy số nợ hiện nay từ các công trình này là rất lớn, tổng số vốn còn thiếu của các công trình xây dựng cơ bản so với dự toán là gần 1.800 tỷ đồng, riêng từ các dự án giao thông là hơn 1.000 tỷ đồng, nhưng cũng phải “cảm ơn đại công trường” vì nhờ đó mà đường đến các huyện vùng cao đã thông suốt trong cả mùa mưa.

Quốc lộ 4C đoạn thị xã Hà Giang đến cao nguyên đá Đồng Văn, Mèo Vạc đi qua những địa danh nổi tiếng như “Cổng Trời”, “Đèo Mã Pí Lèng”, “Núi Cô Tiên", điểm cực bắc Lũng Cú, khu di tích Nhà Vương… đã đi vào sử sách của Việt Nam… Từ “Cổng Trời” Quản Bạ, đi hơn chục cây số, du khách sẽ được chiêm ngưỡng “tác phẩm nghệ thuật” của tạo hóa ban tặng cho vùng đất này. Giữa những núi đá trùng điệp và ruộng bậc thang nổi lên hai trái núi có hình dáng, thế đứng ngồ ngộ khiến du khách không khỏi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp kỳ vĩ của tạo hóa. Hai trái núi gắn với truyền thuyết “Núi Cô Tiên” rất thi vị. Bầu trời trên cao nguyên đá hầu như quanh năm mịt mù sương và đường dốc quanh co nên ở đây người dân có câu: "Thấy nhau trong tầm mắt/Gặp nhau mất nửa ngày""Đất không ba bước bằng, trời không ba ngày nắng", nơi mà "cúi mặt sát đất, ngẩng mặt đụng trời". Phong cảnh của Hà Giang thơ mộng, trữ tình như lời bài hát “Hà Giang mến yêu” của nhạc sĩ Thanh Phúc. Thế nhưng, theo như nhận xét của đồng nghiệp của chúng tôi ở tỉnh thì Hà Giang mến yêu thật, Hà Giang đẹp thật đấy, nhưng còn nghèo quá. Đặc biệt, trên cao nguyên đá bao gồm các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, Quản Bạ, Yên Minh, đồng bào Mông ở đây quanh năm ăn ngô, thậm chí nhiều cháu nhỏ ngỡ ngàng khi nhìn thấy bát cơm trắng. Đồng chí Hoàng Đình Châm, Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy, Phó chủ tịch UBND tỉnh kiêm Trưởng ban đại diện Ngân hàng chính sách xã hội Hà Giang cho biết: Mặc dù trong những năm qua, nhờ nguồn vốn của ngân hàng chính sách xã hội, số hộ đói nghèo trên địa bàn tỉnh đã giảm khá nhanh, nhưng cho đến thời điểm này, toàn tỉnh vẫn còn 53,2% số hộ đói nghèo theo tiêu chí mới, riêng vùng cao nguyên đá có hơn 70% số hộ đói nghèo. Ngân sách thu của cả tỉnh mới đáp ứng được hơn 10 % nhu cầu chi, còn lại gần 90% là phải nhờ vào sự chi viện của Trung ương. Hà Giang hiện đang là một trong hai tỉnh có tỷ lệ hộ đói nghèo cao nhất nước.

Nuôi bò trên… lưng

Chủ tịch UBND xã Sủng Trà là một thanh niên người Mông tên là Hồng Mý Sinh. Năm nay Sinh mới bước sang tuổi 28, dáng người rắn chắc như cây gỗ nghiến. Sinh đưa tôi xuống thăm các bản bằng xe máy, vừa đi trên con đường bé tí tẹo lại lổn nhổn đá to bằng quả trứng gà trứng vịt, Sinh vừa chỉ cho tôi những vạt ngô xanh mướt xung quanh các mỏm đá xanh xám, vừa nói: “Để có cây ngô này, bà con phải gùi đất từ các khe núi mang đổ vào hốc đá để gieo ngô. Núi đá dựng đứng đến nỗi con bò chăn thả cũng rất khó khăn, bởi vậy người Mông ở đây có tập tục lâu đời là “nuôi bò trên lưng” có nghĩa là phải gùi cỏ, gùi ngô về cho bò ăn… Mùa mưa còn có nước mà uống, cây cối xanh tươi, còn đến mùa khô, cả núi đá một màu xám ngoét, muốn có nước uống, có nơi phải đi xa đến chục cây số. Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt là nguyên nhân quan trọng khiến cái đói, cái nghèo cứ đeo đuổi nơi đây”.

Trưởng bản Sủng Pờ A của xã Sủng Trà có tên là Sùng Phái Sà cho chúng tôi biết, hiện cả bản có 55 hộ dân nhưng có tới 31 hộ nghèo, 10 hộ thiếu đói vào lúc giáp hạt. Tỷ lệ hộ đói, nghèo của xã Sủng Trà hiện nay là 74%. Trước kia, cả bản Sủng Pờ A cũng như nhiều người dân trên cao nguyên đá Hà Giang làm giàu bằng cây thuốc phiện. Thứ cây chết người này lại rất hợp với núi đá và khí hậu ở đây. Thuốc phiện có thể đổi được gà, ngô... Từ khi Nhà nước ta có chủ trương xóa cây thuốc phiện, bà con trong bản, trong xã đều ủng hộ. Tất cả các cây thuốc phiện đều được nhổ bỏ. Hạt giống cây thuốc phiện cũng được đốt đi. Thế nhưng, lấy cây gì thay thế cây thuốc phiện thì cho đến thời điểm này vẫn chưa tìm được. Mấy năm trước, được cán bộ Trung ương vận động, cả bản trồng cây đỗ trọng. Ban đầu cũng bán được, nhưng sau đó thì chẳng thấy ai mua, không ai trồng cây đỗ trọng nữa. Cũng có thời kỳ, bà con trong bản trồng cây ngô lai, năng suất rất cao, nhưng hạt ngô này làm mèn mén (món ăn thường xuyên của người Mông trên cao nguyên đá, làm từ ngô- NV) thì rất khó ăn. Thế là cây ngô lai cũng phải lặng lẽ rút xuống núi.

Nỗi niềm vùng cao

Trưởng bản Sùng Phái Sà dẫn chúng tôi đến thăm gia đình chị Cử Thị Mỷ và anh Sùng Mý Día, là một trong những hộ đói nghèo nhất của bản Sủng Pờ A. Năm nay chị Mỷ mới bước sang tuổi 22 và anh Día mới có 25 tuổi, ấy vậy mà đôi vợ chồng trẻ này đã có với nhau 2 đứa con, cháu lớn 3 tuổi, cháu nhỏ 2 tuổi. Cả hai cháu đều suy dinh dưỡng, bé tí tẹo. Tài sản trong nhà chẳng có thứ gì đáng kể ngoài căn nhà tuềnh toàng và 2 cái chảo nấu rượu. Khi chúng tôi cho kẹo, cả hai cháu đều ngỡ ngàng chưa biết cách ăn. Chị Mỷ cho biết: Năm 2003, chị được Ngân hàng phục vụ người nghèo cho vay 1,5 triệu đồng để mua dê về nuôi, chẳng may dê chết, món nợ ấy của ngân hàng đến nay chưa trả được. Trong lúc nói chuyện với chúng tôi, chị Mỷ vẫn không rời bó sợi lanh, thứ sợi để dệt ra vải mặc cho người Mông. Chị Mỷ nói rằng, cả hai vợ chồng đều đã rất cố gắng, nhưng đất trồng ngô không có, phải trồng ngô trên núi cao, vì thế hằng năm đều không đủ ngô ăn. Mặt khác, “vừa lấy nhau xong đã đẻ con đầu lòng, năm sau thêm một con nữa, may nhờ kế hoạch hóa gia đình, không thì cháu đã đẻ thêm đứa thứ ba, thứ tư rồi”. Khi chúng tôi hỏi Mỷ: Sao lại lấy chồng sớm thế, Mỷ thật thà trả lời:

- Cháu lấy chồng năm 17 tuổi, còn chồng cháu khi ấy là 20 tuổi. Chúng cháu thích nhau thì lấy thôi. Ở bản cháu, có người còn lấy chồng sớm hơn cháu ấy chứ.

Lấy vợ, lấy chồng sớm, đẻ nhiều con cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến đói nghèo ở đây. Việc sinh con thứ tư, thứ năm ở Mèo Vạc không còn là “của hiếm”. Khi hỏi vì sao Sùng Sỉa Sính (ở bản Sủng Pờ A) gầy guộc thế, một người già của bản đã trả lời rằng: “Do Sính lấy vợ sớm quá, mới có 17 tuổi mà đã lấy vợ rồi”. Cạnh nhà của Sùng Sỉa Sính là gia đình anh Sùng Sìn Lử có tới 5 người con, cháu lớn nhất 10 tuổi và cháu nhỏ nhất 1 tuổi. Cháu lớn vì phải trông em nên vẫn chưa được đi học.

Tại chợ phiên Sà Phìn (huyện Đồng Văn), tôi gặp ba thanh niên dân tộc Mông là Sùng Hà Kiên, Sùng Sá Phìn, Sùng A Páo đang xuống chợ để… tìm vợ. Dù cả ba thanh niên này mới 18 tuổi, nhưng Phìn vẫn nói với tôi: Muốn lấy vợ lắm rồi. Khi tôi hỏi: Có biết Luật hôn nhân và gia đình quy định nam đủ 20 tuổi mới được kết hôn không? Cả ba đều lắc đầu: Không biết.

Cũng tại chợ Sà Phìn, tôi đã được chứng kiến cảnh uống rượu tràn lan bằng những chiếc bát ăn cơm, người say nghiêng ngả. Có người nói với tôi rằng uống rượu là tập quán của người Mông, người Dao trên cao nguyên đá này. Thế nhưng, nếu cứ “uống rượu thay nước” thì những hạt ngô nhọc nhằn gieo trên đá cũng sẽ biến thành thứ nước uống chẳng “no cái bụng” như lời của chị Cử Thị Na nói với tôi tại chợ.

Đồng chí Phạm Văn Bình, Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Mèo Vạc cho tôi biết: Khó khăn lớn nhất của anh em cán bộ tín dụng khi xuống các xã cho vay vốn không phải do đường sá xa xôi, do nghiệp vụ còn non yếu của đội ngũ cán bộ cơ sở mà là do… rượu. Muốn tiếp cận được với bà con là phải… rượu. Bà con người Mông ở đây rất quý cán bộ, “hỏi tên cán bộ phải bằng rượu mới nhớ lâu”. Gia đình có mấy người đều được bà con “hỏi thăm” bằng các bát rượu. Thậm chí nếu nói người thân đã chết thì cũng sẽ được gửi một bát để “tưởng nhớ”. Vì vậy, theo Giám đốc Bình thì "tiêu chuẩn" đầu tiên đối với người cán bộ tín dụng ở vùng cao là phải có đủ sức khỏe để uống được rượu, sau đó là phải nói được tiếng dân tộc thiểu số trên địa bàn.

“Cao nguyên đá: Đẹp và... nghèo”, đó cũng là lời nhận xét của đồng chí Sùng Đại Hùng, dân tộc Mông, Phó bí thư huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện kiêm Trưởng ban đại diện Ngân hàng chính sách xã hội huyện Đồng Văn. Theo đồng chí Chủ tịch huyện thì công cuộc xóa đói giảm nghèo ở đây gian nan hơn rất nhiều so với các huyện vùng thấp. Do trình độ dân trí thấp mà nhiều gia đình khi đã được vay tiền nhưng cũng không biết sử dụng đồng tiền như thế nào để có hiệu quả. Mấy năm trước, có gia đình vay tiền của ngân hàng về bó chặt rồi để trên gác bếp, đến hạn trả nợ, lại mang nguyên bó tiền đó đến ngân hàng. Có gia đình nghèo, cán bộ ngân hàng gợi ý cho vay nhưng lại không nhận vì “sợ không trả được nợ”. Chính vì vậy mà công việc quan trọng nhất của các cán bộ ngân hàng chính sách xã hội ở vùng này không phải là việc cho vay, thu hồi nợ mà phải cùng với các cấp, các ngành, các đoàn thể hướng dẫn nhân dân sử dụng tiền sao cho có hiệu quả, để “tiền đẻ ra tiền”.

Theo chân các cán bộ tín dụng của các Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, Quản Bạ đến các bản vùng cao, chúng tôi mới thấm thía câu nói trên của đồng chí Chủ tịch UBND huyện Đồng Văn.

Tiền đã biết "đẻ" trên đá

Chỉ vào con bê con trong chuồng, anh Sùng Trá, 35 tuổi ở bản Sủng Pờ A, xã Sủng Trà phấn khởi nói với chúng tôi:

- Đầu năm 2005, tôi được Ngân hàng chính sách xã hội cho vay 5 triệu đồng để mua 2 con bò, đến nay, một con đã đẻ, tôi đã có lãi. Tiền mà Ngân hàng cho vay đã biết "đẻ" ở gia đình tôi…

Chị Thào Thị Mỷ, Chủ tịch Hội phụ nữ xã Sủng Trà cũng vui mừng thông báo với chúng tôi: Nhiều gia đình trong xã đã thoát được nghèo từ vốn vay của Ngân hàng chính sách xã hội. Rút kinh nghiệm từ những lần vay trước kia, mấy năm gần đây, cùng với việc cho vay vốn, các đoàn thể chính trị-xã hội như Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội Nông dân, Hội cựu chiến binh… đã phối hợp với cán bộ ngân hàng, cán bộ khuyến nông tư vấn cho bà con cách sử dụng đồng vốn sao cho có hiệu quả cao nhất. Do đặc điểm thời tiết, khí hậu ở vùng cao núi đá, hội phụ nữ xã đã thống nhất cho rằng, nên sử dụng nguồn vốn vay từ Ngân hàng chính sách xã hội để phát triển đàn bò bởi thương hiệu bò Đồng Văn, Mèo Vạc đã nổi tiếng. Bò nuôi ra không đủ bán. Mặt khác, giá thịt bò cũng đang có xu hướng tăng cao.

Các hộ vay vốn ngân hàng mua bò ở các xã trong huyện Mèo Vạc đã chứng minh lời nói của chị Chủ tịch Hội phụ nữ xã Sủng Trà là đúng đắn. Theo đánh giá của Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Mèo Vạc thì trong số gần 4 nghìn hộ trong huyện vay vốn để nuôi bò với tổng số tiền là gần 6 tỷ đồng, hầu hết đều đã sử dụng vốn đúng mục đích, bò phát triển tốt, nhiều bò cái đã đẻ. Ngân hàng chính sách xã hội thực hiện phương thức cho vay ủy thác qua các tổ chức chính trị xã hội đã góp phần xã hội hóa hoạt động tín dụng đối với người nghèo, làm động lực cho công tác xóa đói, giảm nghèo. Gia đình ông Sùng Vả Nô, 67 tuổi ở bản Sủng Pờ A được Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Mèo Vạc cho vay 2,5 triệu đồng từ năm 2004. Ông Nô mua con bò cái và được sự trợ giúp của cán bộ thú y, cán bộ khuyến nông xã, ông tiêm phòng cho bò, chăm sóc bò chu đáo. Năm ngoái bò đẻ, đến nay con của con bò ông mua đã có giá khoảng 2,5 triệu đồng. Ông Nô vui sướng nói với chúng tôi:

- Năm tới, bán bò trả nợ Ngân hàng xong, mình vẫn còn được một con bò và còn dư mua thêm một con bê nữa.

Chúng tôi được chứng kiến hoạt động của điểm giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội tại xã Sủng Trà. Do địa hình của xã khá rộng, bản xa nhất cách trung tâm xã tới 12km nên mãi đến hơn 10 giờ sáng, bà con được vay tiền của ngân hàng mới đến Hội trường UBND xã đồng thời cũng là điểm giao dịch của ngân hàng. Các cán bộ của các đoàn thể: Hội nông dân, Hội cựu chiến binh, Hội phụ nữ đã có mặt hướng dẫn bà con thủ tục vay và cùng với chị Hoàng Thị Chính, cán bộ khuyến nông của huyện được tăng cường cho xã hướng dẫn bà con cách mua bò giống, chăm sóc bò. Có gia đình còn được giới thiệu địa chỉ mua bò giống tốt ở ngay trong xã. Hoạt động của điểm giao dịch từ 10 giờ đến 2 giờ chiều, nếu còn có người đến thì cán bộ ngân hàng và cán bộ các đoàn thể còn chờ đợi… Nhờ có các điểm giao dịch tại xã mà bà con đi lại đỡ vất vả hơn, nhưng cán bộ ngân hàng lại phải thường xuyên có mặt. Có những xã cách xa trung tâm huyện đến bốn chục cây số, mùa mưa, sạt lở đường, không trở về huyện mà phải ở lại xã qua đêm là “chuyện thường ngày ở ngân hàng chính sách xã hội”- Giám đốc Bình nói với chúng tôi như vậy.

Chị Hoàng Thị Chinh cho biết: Được bà con tín nhiệm, chị đã làm tư vấn giới thiệu cả người có nhu cầu bán bò, người có nhu cầu mua bò. Trước khi mua, bán, bò đều được tiêm phòng bệnh, trong đó có vắc-xin phòng bệnh lở mồm, long móng. Nhờ vậy mà trong đợt dịch lở mồm long móng vừa qua, đàn bò của xã Sủng Trà vẫn an toàn.

Phiên chợ vùng cao Đồng Văn
Có thể làm giàu trên cao nguyên đá?

Bên bát rượu ngô thơm lừng, những người già ở xã Sủng Trà, huyện Mèo Vạc nức nở khen Chủ tịch xã Hồng Mý Sinh có hai con bò, một bò đực và một bò cái vừa đoạt giải nhất trong hội thi tuyển chọn giống bò toàn huyện. Con bò đực giống đã được Khuyến nông huyện “trả lương” mỗi tháng 200 nghìn đồng. Ông Sùng Vả Nô hể hả nói với tôi:

- Thằng Sinh nó giỏi lắm. Con ma đá, ma rừng cũng phải sợ nó. Nó dám lấy vợ là người Kinh đấy.

Nghe người già nói vậy, Sinh chỉ cười và nói nhỏ với tôi:

- Vợ em là giáo viên miền xuôi lên đây dạy học. Khi chúng em yêu nhau, nhiều người phản đối, vì sợ ma đá, ma rừng không cho. Nhưng em đã giải thích, chẳng có con ma nào cả. Thực tế vợ chồng em rất hạnh phúc. Chúng em đã có một cháu trai. Hiện nay em đang xây dựng mô hình để chứng minh với mọi người là có thể làm giàu trên cao nguyên đá nếu có đủ vốn và hiểu biết.

Hồng Mý Sinh không chỉ là người dân tộc Mông đầu tiên ở xã Sủng Trà lấy vợ người dân tộc Kinh, anh còn là thanh niên đầu tiên trong xã đã học hết chương trình phổ thông rồi tốt nghiệp trường Trung học kinh tế Hà Giang. Ý tưởng xây dựng mô hình khép kín giữa trồng trọt, chăn nuôi của anh đã ấp ủ ngay từ khi đang học ở trường và được các thầy động viên, khuyến khích. Được vợ đồng tình ủng hộ, Sinh đã mạnh dạn vay vốn xây dựng nhà ở kiên cố, chuồng bò kiên cố. Toàn bộ nền nhà là bể chứa nước có thể dùng cho cả gia đình và đàn bò trong suốt mùa khô. Chuồng bò làm theo kiểu nhà sàn, mùa hè thì mát, còn mùa đông thì ấm. Khác với các gia đình nuôi bò trong xã, đất quanh chuồng bò, gia đình anh không trồng ngô mà lại trồng cỏ giống mới do khuyến nông huyện cung cấp. Phân của bò, anh ủ lại cho mục rồi lại đem bón cho cỏ. Nhờ vậy mà cỏ quanh chuồng bò quanh năm xanh tốt, không phải đi cắt cỏ hoang ngoài rừng như những gia đình khác, đàn bò của anh lúc nào cũng béo mượt.

Sinh phân tích: Nếu so sánh lợi ích kinh tế của việc trồng ngô và trồng cỏ để nuôi bò thì trồng cỏ có giá trị cao gấp ba lần trồng ngô, công việc chăm sóc cỏ cũng nhàn hơn so với việc chăm sóc ngô.

Sinh kể rằng: Người Mông rất thông minh, khéo tay, nhưng lại hay bảo thủ. Chỉ có lưỡi cày do người Mông rèn mới cày được trên núi đá. Cũng chỉ có con dao của người Mông mới “chém vào đá mà dao không bị mẻ”. Nhưng để thuyết phục người Mông làm theo mô hình sản xuất mới thì rất khó. Từ bao đời nay người Mông ở Mèo Vạc chỉ biết trồng ngô, nấu rượu, cắt cỏ hoang về nuôi bò. Nay đất tốt lại dùng vào việc trồng cỏ, bà con sợ sẽ không đủ ngô ăn, không đủ rượu uống. Phải cho bà con tham quan, “mắt thấy, tai nghe, tay sờ, miệng uống rượu” thì bà con mới công nhận rằng có thể bán bò đi mua ngô, mua rượu. Mô hình trồng cỏ-nuôi bò-trồng cỏ của gia đình chủ tịch Hồng Mý Sinh được một số gia đình ở xã Sủng Trà áp dụng và bước đầu đã mang lại hiệu quả cao gấp nhiều lần so với mô hình trồng ngô-nuôi bò-cắt cỏ hoang.

Thực ra mô hình “một mái nhà, một bể nước và một con bò” của các huyện vùng cao Hà Giang đã có từ khá lâu. Thực tế đã kiểm nghiệm mô hình này là hiệu quả đối với vùng cao nguyên đá. Gia đình nào có đủ các điều kiện nói trên là có thể xóa được nghèo. Thế nhưng để xóa đói giảm nghèo bền vững và tiến tới làm giàu thì mô hình nói trên cũng cần phải được xem xét, bổ sung thêm các tiêu chí khác nữa. Theo ý kiến của đồng chí Hoàng Đình Châm, Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Hà Giang kiêm Trưởng ban đại diện Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh, thì vấn đề mấu chốt để xóa đói, giảm nghèo và làm giàu trên vùng cao là công tác cán bộ. Do đặc điểm ở các huyện vùng cao núi đá, trình độ dân trí rất thấp, cán bộ cơ sở, nhất là cán bộ xã, thôn, bản phải “cầm tay, chỉ việc” cho bà con. Mặt khác, bà con các dân tộc từ bao đời nay một lòng đi theo Đảng, theo cách mạng, vì thế, bà con rất tin cán bộ. Do đó cán bộ ở vùng cao phải trở thành tấm gương mẫu mực trong cả cuộc sống và làm ăn kinh tế. Cán bộ làm trước, làng nước theo sau. Tỉnh ủy Hà Giang đã có chủ trương luân chuyển cán bộ, đưa cán bộ từ các cơ quan của tỉnh xuống trực tiếp làm Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã để tạo điều kiện cho các cán bộ này hiểu biết thêm về thực tiễn ở cơ sở và góp phần đào tạo cán bộ cho cơ sở. Tỉnh cũng đã lấy nguồn ngân sách của tỉnh để đào tạo và bố trí mỗi xã một cán bộ khuyến nông biên chế vào trạm khuyến nông của huyện; mỗi thôn, bản có một cán bộ y tế và một cán bộ thú y.

Qua khảo sát của chúng tôi, thì tại cao nguyên đá đã xuất hiện những mô hình làm giàu. Tuy nhiên, có một vấn đề mà theo chúng tôi là nan giải nhất đối với đời sống của bà con các dân tộc trên cao nguyên này mà vẫn chưa có lời giải xác đáng, đó là nước sinh hoạt. Mô hình “bể nước, mái nhà, con bò” của tỉnh đã đặt chiếc bể nước lên hàng đầu là rất đúng. Bể nước đối với các gia đình vùng cao nguyên đá là rất quý, nhưng nước trên bể thì không thể đủ dùng trong suốt 4 tháng mùa khô. Mặt khác, “Nhà nước cho tiền làm bể, nhưng không cho tiền làm nắp”, như lời phàn nàn của bà con xã Sà Phìn (Đồng Văn), do đó nước trong bể xanh ngòm do bể bị mọc rêu, không bảo đảm vệ sinh. Vì vậy, bà con đề nghị Nhà nước “đã thương thì thương cho trót” cho thêm cái nắp bể nước. Về lâu dài, cần tính đến khả năng có thể xây dựng các “hồ trên núi” để dự trữ nước hoặc bơm nước từ các sông lên các hồ nước trên cao để phục vụ đồng bào.

Theo cơ chế cho vay hiện nay thì chỉ những hộ nghèo mới được vay vốn từ Ngân hàng chính sách xã hội. Trong khi đó, các hộ nghèo lại rất cần những mô hình cụ thể để có thể học hỏi, làm theo. Mặt khác, ngoài những hộ đói, nghèo, các hộ còn lại trong vùng cao nguyên đá cũng có rất ít hộ giàu. Vì thế, theo ý kiến của nhiều bà con các dân tộc trên vùng cao nguyên đá thì ngân hàng nên mở rộng đối tượng cho vay đến các hộ cận nghèo, các hộ có điều kiện phát triển kinh tế. Lãi suất cho vay các đối tượng này phải cao hơn lãi suất cho hộ nghèo vay nhưng lại thấp hơn lãi suất của các ngân hàng thương mại. Có như vậy, trên vùng cao nguyên đá mới có cơ hội tạo thêm các “đầu tàu” để kéo theo các “toa” là các hộ nghèo vươn lên.

Với biên chế hiện nay, mỗi phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội cấp huyện chỉ có 7 người, thực hiện điểm giao dịch tại xã, trong khi đường từ huyện xuống các xã rất xa. Nên chăng, Ngân hàng chính sách xã hội và các địa phương xem xét lại biểu biên chế cứng nhắc này bởi một huyện vùng cao có diện tích rộng gần bằng một tỉnh ở đồng bằng sông Hồng.

Cao nguyên đá đang cựa mình. Cao nguyên đá đang khởi sắc. Đó là sự cảm nhận và hy vọng của chúng tôi sau khi đi cùng với các cán bộ của Ngân hàng chính sách xã hội "gieo tiền" trên đá.

Bài và ảnh: ĐỖ PHÚ THỌ