Khi Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng vào chuỗi sản xuất toàn cầu, việc nhìn thẳng vào cơ chế bóc lột mới của chủ nghĩa tư bản số chính là cách để xây dựng thể chế, chính sách nhằm khắc phục những nguy cơ bất bình đẳng mới.
Sự tàn nhẫn của thuật toán
Trong một cuốc xe ôm công nghệ, tài xế Lù Anh Tuấn quê ở Lai Châu kể cho tôi nghe cuộc sống vất vả mưu sinh với nghề xe ôm công nghệ. Tuấn làm việc cho một nền tảng xe công nghệ của nước ngoài. Do coi đây là công việc chính để kiếm cơm nuôi cả nhà nên Tuấn phải dậy từ sáng sớm, tích cực làm việc tới khuya mới về nhà. Tính ra mỗi ngày Tuấn đi khoảng 200km, hít đủ bụi đường Hà Nội. Tích cực như vậy, nhưng Tuấn cũng chỉ kiếm trung bình khoảng 10-12 triệu đồng/tháng. Tuy nhiên, nhiều thời điểm, thu nhập của Tuấn hết sức bấp bênh do nền tảng áp dụng tỷ lệ ăn chia “linh hoạt”, thay đổi tùy chuyến đi, thời điểm, cung-cầu và một số yếu tố vận hành. Và về cơ bản, tỷ lệ “linh hoạt” này luôn làm lợi cho nền tảng. “Biết là bất công, có những cuốc chỉ hơn một chục nghìn đồng, tức là tài xế thực nhận chỉ được vài nghìn đồng, nhưng bắt buộc phải nhận cuốc, nếu không tài xế sẽ bị trừ điểm và sẽ ít nhận được khách”, Tuấn kể. Chiếc xe Honda Wave cà tàng của Tuấn đợt vừa rồi giở chứng, khiến anh phải tốn vài triệu đồng để sửa chữa. Tiền ấy anh phải chịu, vì xe là của anh.
 |
| Ảnh minh họa: baochinhphu.vn |
Sự khắc nghiệt của thuật toán khiến hàng triệu shipper, tài xế taxi công nghệ, xe ôm công nghệ, trên danh nghĩa là hoàn toàn tự do, nhưng lại bị vắt kiệt sức lao động. Đại diện Liên đoàn Lao động TP Hồ Chí Minh dẫn ra một khảo sát đối với 141 tài xế cho thấy 35% trong số họ làm việc hơn 10 giờ mỗi ngày.
Nhiều tài xế còn vay nợ để mua xe chạy dịch vụ công nghệ, còng lưng gánh lãi ngân hàng, nên phải lao động cật lực. Theo họ, nghề taxi công nghệ là một trong những nghề áp lực nhất, vì căng thẳng trên đường, cùng áp lực trả nợ nếu mua xe bằng tiền vay mượn. Họ truyền tai nhau về những trường hợp tài xế taxi công nghệ do cố “cày trả nợ” mà đột quỵ ngay trên vô lăng do quá mệt mỏi, căng thẳng.
Cách đây chưa lâu, một bài viết được đăng tải trên trang mạng xã hội Reddit đã gây nổi sóng cộng đồng mạng. Bài viết của một lập trình viên đang làm việc tại một ứng dụng giao đồ ăn lớn đã phơi bày các chiêu trò của công ty taxi, giao hàng công nghệ.
Trong đó có một chiêu rất tàn nhẫn là việc theo dõi tài xế giao hàng và thiết lập “Desperation Score” (chỉ số tuyệt vọng). Đây là chỉ số ẩn theo dõi mức độ tuyệt vọng của tài xế cần tiền dựa trên hành vi chấp nhận đơn. Nếu tài xế thường đăng nhập lúc 10 giờ đêm và chấp nhận ngay mọi đơn hàng, bất kể cả đơn “rác” (đơn có giá trị thấp), thuật toán sẽ gắn thẻ họ “High Desperation” (mức tuyệt vọng cao). Khi bị gắn thẻ, hệ thống cố tình ngừng hiển thị đơn hàng có giá trị cao hay những đơn hàng thường nhận được tiền tip cao cho họ. Đó chính là logic tàn nhẫn: “Tại sao trả tài xế này 15USD khi anh ta đủ tuyệt vọng để làm với 6USD?". Những đơn hàng “ngon ăn” được dành cho những tài xế bán thời gian để lôi kéo họ. Trong khi, tài xế toàn thời gian-những người sống nhờ việc đưa hàng-bị bóc lột thậm tệ.
Bài viết cũng tiết lộ, trong cuộc họp lên kế hoạch hằng tuần, các lãnh đạo của công ty công nghệ luôn thảo luận cách “vắt thêm từ tài sản con người”. Mặc dù còn có những tranh luận về nội dung của bài viết, nhưng phần lớn độc giả đều đồng tình rằng ý chính là có thật. Đây là cách “cái ác” được thực hiện ở hầu hết công ty công nghệ ngày nay, nơi các lập trình viên được khuyến khích tối ưu con số mà không cần nghĩ về số phận con người đằng sau.
Một câu chuyện khác về việc sử dụng thuật toán để quản lý người lao động. Một trong những doanh nghiệp bán lẻ lớn nhất toàn cầu Amazon đã bị tố cáo là ép công nhân làm việc “như nô lệ”. Tại nhà kho của Amazon, công nhân làm việc 10 tiếng/ngày, liên tục bị giám sát và đối mặt với áp lực bị sa thải nếu không bảo đảm tốc độ lấy một sản phẩm mỗi 9 giây và đóng gói ít nhất hai kiện hàng trong một phút. Thậm chí, nhiều công nhân sợ uống nước, vì phải đi vệ sinh trong giờ làm việc nên đã đi tiểu trong chai. Nguyên nhân là do những nhân viên này sợ rằng, vài phút chạy đi vệ sinh sẽ khiến họ có thể mất việc.
Để có thể quản lý công nhân một cách sát sao như thế, Amazon sử dụng “thuật toán bóc lột”. Theo đó, các công nhân phải đeo những thiết bị định vị hoặc vòng tay thông minh. Thuật toán sẽ tính toán chính xác thời gian họ di chuyển giữa các kệ hàng, thời gian đóng gói một kiện sản phẩm, thậm chí là thời gian đi vệ sinh để đưa ra cảnh báo “giảm hiệu suất” ngay lập tức.
“Nô lệ trong ngành công nghiệp sáng tạo nội dung”
Không chỉ những người lao động chân tay bị bóc lột nặng nề mà cả những người “danh nổi như cồn”-những người sáng tạo nội dung nổi tiếng trên mạng xã hội-cũng không thoát.
Trường hợp của “Tiên nữ đồng quê” Lý Tử Thất của Trung Quốc-một trong những YouTuber rất nổi tiếng với các video về cuộc sống ở vùng nông thôn-là một điển hình. Từ khi hợp tác với Lý Tử Thất, công ty quản lý của cô là Công ty Vô Niệm Hàng Châu đã nhận được khoản lợi nhuận khổng lồ, với định giá thị trường lên tới 5 tỷ USD. Tuy nhiên sau đó, mâu thuẫn về quyền lợi kinh tế nổ ra, Lý Tử Thất kiện công ty ra tòa vì cho rằng mình bị bóc lột sức lao động và danh tiếng nhưng không nhận lại được thù lao tương xứng. Tại phiên tòa, Lý Tử Thất mô tả mình là “nô lệ trong ngành công nghiệp sáng tạo nội dung”, bị vắt kiệt hình ảnh và danh tiếng. Theo trang Sina, nếu sức ảnh hưởng từ thương hiệu Lý Tử Thất kiếm được 100 triệu USD, thì Công ty Vô Niệm Hàng Châu lấy 90 triệu USD, 9 triệu USD trả cho đội ngũ truyền thông, sản xuất phía sau, nữ YouTuber chỉ nhận được 1 triệu USD.
Trên phạm vi toàn cầu, bóc lột người sáng tạo nội dung trên không gian mạng là một thực trạng nhức nhối khi sự bùng nổ của kinh tế số đi liền với các lỗ hổng về mặt pháp lý và bảo hộ lao động. Hành vi bóc lột này không chỉ đến từ những thuật toán của các tập đoàn công nghệ lớn mà còn từ các đơn vị trung gian và sự phát triển vũ bão của trí tuệ nhân tạo (AI).
Các hình thức bóc lột phổ biến đối với nhà sáng tạo nội dung vô cùng đa dạng. Điển hình là trục lợi tác quyền qua hệ thống tự động (ví dụ: Quy định của mạng xã hội YouTube vốn sinh ra để bảo vệ bản quyền, nhưng lại thường xuyên bị các doanh nghiệp lớn trục lợi để “phạt gậy”, chiếm đoạt doanh thu quảng cáo từ chính các ca khúc, video do nghệ sĩ tự sáng tác). Hình thức thứ hai là chiếm đoạt giá trị thặng dư từ dữ liệu. Theo đó, các mạng xã hội như Facebook kiếm hàng tỷ USD từ việc phân tích, bán dữ liệu hành vi và nội dung tương tác của người dùng/nhà sáng tạo cho các doanh nghiệp quảng cáo. Một hình thức “độc ác” khác là áp lực thuật toán gây kiệt sức. Thuật toán liên tục thay đổi buộc người sáng tạo nội dung phải chạy đua số lượng để duy trì lượt tương tác. Nhiều người rơi vào trạng thái mất cân bằng cuộc sống nghiêm trọng.
Tắt app hay xây dựng luật?
Tháng 9-2026, tại một số đô thị lớn ở Việt Nam, một loạt tài xế Grab, Be đồng loạt tắt app phản đối mức chiết khấu thấp mà các nền tảng áp dụng cho lái xe. Đó chỉ là sự phản ứng vì bất bình đẳng trong mối quan hệ giữa tài xế và nền tảng công nghệ.
Hiện tại, phần lớn nền tảng dịch vụ vận tải công nghệ đều ở tình trạng phi chính thức hóa quan hệ lao động: Không hợp đồng lao động truyền thống, không bảo hiểm xã hội, không bảo hiểm thất nghiệp, không có tổ chức công đoàn... Hầu hết tài xế công nghệ chỉ được coi là đối tác. Họ tạo ra lợi nhuận và giá trị đích thực nhưng không được hưởng các phúc lợi cơ bản.
Tình trạng phi chính thức hóa quan hệ lao động đã khiến người lao động trở nên đặc biệt dễ tổn thương. Khi một tài xế công nghệ gặp một vấn đề, đơn cử như vấn đề về sức khỏe, không thể làm việc, lập tức người đó mất hoàn toàn thu nhập và không nhận được sự hỗ trợ nào từ phía các nền tảng. Vừa ốm đau, vừa mất thu nhập, tài xế công nghệ dễ dàng rơi vào tình cảnh khốn cùng.
Không chỉ các tài xế công nghệ, còn rất nhiều đối tượng lao động khác trên nền tảng số, như: Người sáng tạo nội dung, marketing số, bán hàng trực tuyến... không được bảo vệ bởi Bộ luật Lao động. Bởi lẽ, họ cũng chỉ được người sử dụng lao động coi là đối tác.
Trên thị trường lao động trong nước, lao động nền tảng số đang phát triển nhanh chóng. Trong khi đó, theo khoản 1 Điều 2 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định về đối tượng áp dụng không chỉ bao gồm người lao động trong quan hệ lao động mà còn gồm cả “người làm việc không có quan hệ lao động”. Quy định này cho thấy, về hình thức, pháp luật lao động Việt Nam đã mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với các nhóm lao động phi truyền thống, kể cả lao động trong nền kinh tế nền tảng số. Tuy nhiên, việc mở rộng phạm vi áp dụng này mới dừng lại ở mức độ nguyên tắc, trong khi các chế định cụ thể của Bộ luật Lao động năm 2019 chủ yếu được thiết kế trên cơ sở quan hệ lao động có hợp đồng. Do đó, đối với lao động trong nền kinh tế nền tảng số là nhóm lao động có đặc điểm trung gian giữa lao động phụ thuộc và lao động độc lập, thì việc áp dụng các quy định hiện hành còn gặp nhiều hạn chế.
Tương tự, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, trong đó, bổ sung một số nhóm người làm việc không theo quan hệ lao động truyền thống và tạo điều kiện cho lao động có việc làm không ổn định tham gia hệ thống an sinh xã hội. Đồng thời, chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện tiếp tục được hoàn thiện theo hướng gia tăng quyền lợi cho người tham gia. Tuy nhiên, phần lớn lao động nền tảng số hiện nay chưa thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc do chưa được xác định rõ địa vị pháp lý.
Thực tế, mô hình lao động nền tảng số đang góp phần tạo ra nhiều cơ hội việc làm trong bối cảnh chuyển đổi số, nhưng việc bảo đảm các quyền cơ bản của người lao động trong mô hình này còn nhiều khoảng trống pháp lý. Điều này đặt ra yêu cầu cần tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm xác định rõ địa vị pháp lý của lao động nền tảng, đồng thời, thiết lập các cơ chế bảo vệ phù hợp đối với quyền và lợi ích của nhóm lao động này trong nền kinh tế số.
(còn nữa)